BS. David F. Cuevas Cueto · Cập nhật ngày 27 tháng 9 năm 2026 · Nguồn: SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0
Văn bản đồng thuận SCCT năm 2026 cập nhật hướng dẫn năm 2014 về đọc và báo cáo kết quả chụp cắt lớp vi tính động mạch vành (CCTA). Trang này so sánh tám thay đổi, kèm trích dẫn nguyên văn từ cả hai tài liệu; số trang của văn bản 2026 là của bản PDF sơ bộ (journal pre-proof) và có thể thay đổi trong bản chính thức. Các định nghĩa trong bảng thuật ngữ đã theo phiên bản 2026.
Gánh nặng mảng xơ vữa tổng thể (P1–P4)#
SCCT 2014
Hướng dẫn yêu cầu mô tả mức độ lan rộng của bệnh nhưng chưa có thang đánh giá gánh nặng mảng xơ vữa tổng thể. Chỉ số tổng thể duy nhất là điểm vôi hóa (tổng điểm Agatston và bách phân vị), nếu có chụp loạt không tiêm thuốc cản quang.
SCCT 2014, mục 4 (Noncontrast coronary interpretation: coronary calcium scoring), tr. 345; Bảng 4, tr. 347 · “at the minimum, the total calcium score should be reported as well as the percentile as compared with age and gender nomograms.”
SCCT 2026
Gánh nặng mảng xơ vữa tổng thể là một thành phần của báo cáo với mức khuyến cáo mạnh. Gánh nặng được ước lượng bằng mắt ở mức nhẹ, trung bình, nặng hoặc lan rộng (P1–P4), kết hợp với điểm vôi hóa hoặc với điểm số đoạn bị tổn thương (SIS) (Bảng 3). Đo định lượng thể tích mảng xơ vữa là tùy chọn (khuyến cáo yếu, 1.3).
SCCT 2026, Bảng 5, tr. 51; Bảng 3, tr. 49; mục “c. Plaque volume”, tr. 14; Bảng 6, tr. 52 · “Plaque burden assessment is performed qualitatively as mild, moderate, severe, or extensive in combination with either the calcium score or the segmental involvement score.”
Trong thực hành. Mọi báo cáo có mảng xơ vữa, ngoài phân độ CAD-RADS về hẹp, đều có thêm một dòng về gánh nặng mảng xơ vữa tổng thể, ví dụ “Gánh nặng mảng xơ vữa: trung bình (P2; SIS 4)”. Nếu khảo sát không có loạt chụp không tiêm thuốc cản quang để tính điểm vôi hóa, gánh nặng được ước lượng bằng SIS hoặc bằng mắt.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Gánh nặng mảng xơ vữa (P1–P4)
Kết luận và khuyến cáo theo CAD-RADS 2.0#
SCCT 2014
Phần kết luận cần tóm tắt các phát hiện có ý nghĩa lâm sàng một cách rõ ràng và chuẩn hóa nhất có thể, nhưng chưa có hệ thống phân độ vì khi đó CAD-RADS chưa ra đời. Khuyến cáo lâm sàng là phần tùy chọn (Bảng 4).
SCCT 2014, mục 10.7 (Impressions), tr. 352; Bảng 4 (“Clinical recommendations: Optional”), tr. 347 · “All clinically important findings should be summarized in this section in as clear and standardized fashion as possible.”
SCCT 2026
Phần kết luận về động mạch vành cần ngắn gọn và theo định dạng CAD-RADS 2.0 (khuyến cáo mạnh, Bảng 6). Theo văn bản, có thể ghi phân độ CAD-RADS về hẹp, tiếp theo là gánh nặng mảng xơ vữa (P1–P4) rồi đến các ký hiệu bổ sung. Đưa ra khuyến cáo xử trí theo CAD-RADS 2.0 có mức khuyến cáo trung bình (2.4).
SCCT 2026, mục “f. Impression”, tr. 35–36; Bảng 6 (Impression/Conclusion và Recommendation), tr. 52 · “A CAD-RADS category of stenosis (0,1,2,3,4A,4B,5,N) followed by plaque volume (P1,P2,P3,P4) and then modifiers (N,HRP,I,S,G,E) can be given following CAD-RADS 2.0 system”
Trong thực hành. Phần kết luận tóm tắt các phát hiện ở động mạch vành bằng chuỗi mã CAD-RADS 2.0, ví dụ “CAD-RADS 3/P2/HRP”. Phần khuyến cáo, vốn là tùy chọn trong hướng dẫn 2014, được viết theo CAD-RADS 2.0 dưới dạng gợi ý để bác sĩ điều trị cân nhắc trong bối cảnh lâm sàng của bệnh nhân.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Thứ tự chuỗi mã CAD-RADS
Hẹp trên mảng xơ vữa vôi hóa đậm đặc#
SCCT 2014
Hướng dẫn chỉ lưu ý rằng xảo ảnh blooming làm mảng xơ vữa vôi hóa và stent có vẻ gây hẹp lòng mạch nhiều hơn thực tế. Hướng dẫn không nêu cách phân độ hẹp hay cách viết vào báo cáo.
SCCT 2014, mục 5.1.2 (Metal density artifacts), tr. 346 · “blooming artifacts commonly make calcified plaque and stents appear to narrow the lumen more than they actually do.”
SCCT 2026
Ở mảng xơ vữa vôi hóa đậm đặc, báo cáo mức độ hẹp cao nhất nhìn thấy được, kèm lưu ý rằng mức độ này có thể bị ước tính quá cao do xảo ảnh blooming của vôi hóa (khuyến cáo mạnh, 2.6). Văn bản còn nêu hai cách khác: trừ đi 10–20% hoặc xem đoạn đó là không đánh giá được.
SCCT 2026, Bảng 5, tr. 51; mục “e. Dense calcified plaques”, tr. 16 · “In a dense calcified plaque, the highest visualized grade of stenosis is interpreted with the expression of potential overestimation from calcium blooming.”
Trong thực hành. Với mảng xơ vữa vôi hóa đậm đặc, ghi mức độ hẹp nhìn thấy kèm lưu ý, thay vì tự trừ một tỷ lệ phần trăm mà không nói rõ, ví dụ “hẹp nặng (70–99%), mức độ hẹp có thể bị ước tính quá cao do xảo ảnh blooming của vôi hóa”.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Xảo ảnh blooming (vôi hóa và stent)
Khẩu kính tối thiểu của các nhánh được đánh giá#
SCCT 2014
Hướng dẫn không quy định khẩu kính tối thiểu cần đánh giá, chỉ yêu cầu nêu rõ động mạch hoặc đoạn nào không đánh giá được và lý do. Ngưỡng 1,5 mm chỉ xuất hiện trong định nghĩa nhánh D1.
SCCT 2014, mục 5.5, tr. 348; Phụ lục 1, tr. 358 · “In addition, the reader should specifically state if an artery or artery segment is not interpretable and why.”
SCCT 2026
Trong khảo sát có chất lượng tốt, đánh giá mọi nhánh có đường kính từ 1,5 mm trở lên (khuyến cáo mạnh, Bảng 5); trong khảo sát có chất lượng tiêu chuẩn, đánh giá các nhánh từ 2,0 mm trở lên. Mọi đoạn từ 1,5 mm trở lên mà không đánh giá được đều được nêu tên kèm nguyên nhân. Mảng xơ vữa nhìn rõ ở mạch nhỏ vẫn được báo cáo, kèm ghi chú rằng mạch có khẩu kính nhỏ.
SCCT 2026, mục “d. Qualitative grading of stenosis”, tr. 15; Bảng 5, tr. 51 · “With a good-quality scan, all branches with diameter ≥ 1.5 mm and with a standard quality scan, all branches with diameter ≥ 2.0 mm should be included in the interpretation”
Trong thực hành. Các nhánh dưới 1,5 mm không được phân độ hẹp và không phải là lý do để ghi N. Nếu mảng xơ vữa ở các nhánh này nhìn rõ, mô tả mảng xơ vữa và ghi chú rằng mạch có khẩu kính nhỏ. Trong khảo sát có chất lượng tiêu chuẩn, ngưỡng tăng lên 2,0 mm.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Khẩu kính tối thiểu của các nhánh được đánh giá
Tổn thương tại chỗ nối giữa hai đoạn hoặc tại chỗ chia đôi#
SCCT 2014
Chưa có quy tắc gán tổn thương nằm ở ranh giới giữa hai đoạn; hướng dẫn chỉ khuyến cáo dùng một mô hình phân đoạn chuẩn hóa.
SCCT 2014, mục 5.3 (Coronary segmentation), tr. 346 · “A standardized approach to coronary segmentation improves description and communication of findings.”
SCCT 2026
Tổn thương nằm tại chỗ giao nhau của hai đoạn, kể cả chỗ chia đôi, được gán cho đoạn phía trước, tức là đoạn gần hơn.
SCCT 2026, mục “a. Coronary artery anatomy”, tr. 11 · “Disease at the intersection of segments (including bifurcations) is assigned to the preceding coronary segment.”
Trong thực hành. Một mảng xơ vữa khu trú tại chỗ nối giữa LAD đoạn gần và LAD đoạn giữa được ghi nhận ở LAD đoạn gần, không ghi ở cả hai đoạn. Nhờ vậy, tổn thương chỉ mang tên một đoạn và chỉ được tính một lần trong SIS.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Gán tổn thương tại chỗ nối giữa hai đoạn hoặc tại chỗ chia đôi
Giới hạn của LAD đoạn gần và định nghĩa D1, D2#
SCCT 2014
LAD đoạn gần kết thúc tại nhánh vách lớn đầu tiên hoặc tại D1, tùy nhánh nào xuất phát trước. D1 là nhánh chéo đầu tiên có khẩu kính từ 1,5 mm trở lên.
SCCT 2014, Phụ lục 1 (Axial coronary anatomy legend), đoạn 6 và 9, tr. 358 · “End of LM to the first large septal or D1 (first diagonal; >1.5 mm in size) whichever is most proximal”
SCCT 2026
LAD đoạn gần chỉ kết thúc tại nhánh vách lớn đầu tiên. D1 và D2, theo thứ tự xuất phát, là nhánh thứ nhất và nhánh thứ hai trong hai nhánh chéo có khẩu kính lớn nhất chạy trên thành trước bên của thất trái.
SCCT 2026, Bảng 1 (đoạn 6, 9 và 10), tr. 47 của bản pre-proof · “End of LM to the first large septal branch … First of the largest two diagonal branches traversing the anterolateral left ventricular wall”
Trong thực hành. Một nhánh chéo xuất phát trước nhánh vách lớn đầu tiên không còn là mốc kết thúc của LAD đoạn gần. Một nhánh chéo nhỏ xuất phát ở đoạn gần không được gọi là D1, vì tên này dành cho nhánh thứ nhất trong hai nhánh chéo có khẩu kính lớn nhất.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Động mạch liên thất trước đoạn gần, đoạn giữa và đoạn xa
Loại mảng xơ vữa: vôi hóa một phần và thành phần chủ yếu từ 75% trở lên#
SCCT 2014
Loại mảng xơ vữa được mô tả theo từng đoạn là vôi hóa, chủ yếu vôi hóa, không vôi hóa, chủ yếu không vôi hóa hoặc “không vôi hóa một phần”, không có ngưỡng để xác định thành phần chủ yếu. Thuật ngữ “không vôi hóa” đã được ưu tiên hơn “mềm” hoặc “giàu lipid”.
SCCT 2014, mục 10.6.2, tr. 352; mục 5.4, tr. 346 · “Plaque type should be described as calcified, predominant calcified, noncalcified, predominant noncalcified, or partially noncalcified.”
SCCT 2026
Loại mảng xơ vữa được ghi nhận theo từng đoạn với ba loại: vôi hóa, vôi hóa một phần và không vôi hóa (khuyến cáo mạnh, Bảng 6). Mảng xơ vữa vôi hóa một phần có thể được ghi rõ là chủ yếu vôi hóa hoặc chủ yếu không vôi hóa khi thành phần đó chiếm từ 75% trở lên. Hướng dẫn khuyến cáo dùng “không vôi hóa” hoặc “tỷ trọng thấp” thay cho “mềm” hoặc “giàu lipid”.
SCCT 2026, mục “b. Atherosclerotic plaque”, tr. 13; Bảng 6, tr. 52 · “A partially calcified plaque can be specified as predominantly calcified with ≥ 75 % of the plaque component calcified”
Trong thực hành. Viết “mảng xơ vữa vôi hóa một phần” thay cho “không vôi hóa một phần”, và chỉ dùng từ “chủ yếu” khi một thành phần chiếm từ 75% trở lên. Việc tránh thuật ngữ “mảng mềm” không phải là thay đổi mới, vì hướng dẫn 2014 đã không khuyến khích thuật ngữ này. Trong bảng thuật ngữ này, “tỷ trọng thấp” chỉ dùng cho đặc điểm nguy cơ cao (<30 HU); với loại mảng xơ vữa, dùng “không vôi hóa”.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Mảng xơ vữa vôi hóa một phần
Động mạch mũ: chỉ có đoạn gần và đoạn xa#
SCCT 2014
Đoạn 13 được gọi là “LCx đoạn giữa và đoạn xa”, chạy trong rãnh nhĩ thất, phía xa nhánh OM1, đến tận cùng mạch hoặc đến chỗ xuất phát của nhánh liên thất sau trái (L-PDA).
SCCT 2014, Phụ lục 1, đoạn 13, tr. 358 · “Mid and distal LCx … Traveling in the atrioventricular groove, distal to the OM1 branch to the end of the vessel or origin of the L-PDA (left PDA)”
SCCT 2026
Động mạch mũ chỉ được chia thành đoạn gần và đoạn xa. Đoạn 13 là LCx đoạn xa, gồm phần còn lại của động mạch trong rãnh nhĩ thất, phía xa OM1. Hướng dẫn không định nghĩa đoạn giữa của LCx.
SCCT 2026, mục “a. Coronary artery anatomy”, tr. 11; Bảng 1, đoạn 13, tr. 47 · “the left circumflex coronary (LCx) artery is divided into proximal and distal segments”
Trong thực hành. Tổn thương ở phía xa OM1 được báo cáo là “LCx đoạn xa”, không phải “LCx đoạn giữa” hay “LCx đoạn giữa–xa”. Ranh giới giữa hai đoạn vẫn là chỗ xuất phát của OM1.
Mục từ trong bảng thuật ngữ: Động mạch mũ đoạn gần và đoạn xa