Mảng xơ vữa động mạch vành và mảng xơ vữa nguy cơ cao
BS. David F. Cuevas Cueto · Cập nhật ngày 27 tháng 9 năm 2026 · Nguồn: SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0
Mảng xơ vữa được mô tả theo thành phần, theo các đặc điểm nguy cơ cao mà nó thể hiện và theo tổng gánh nặng mảng xơ vữa của bệnh nhân. Các định nghĩa theo đồng thuận SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0.
Những điểm chính
Mảng xơ vữa vôi hóa có phần lớn tỷ trọng cao hơn lòng mạch ngấm thuốc cản quang, mảng xơ vữa không vôi hóa có tỷ trọng thấp hơn, và mảng xơ vữa vôi hóa một phần có cả hai thành phần; mốc tham chiếu là lòng mạch của từng khảo sát, không phải một giá trị HU cố định.
Ký hiệu bổ sung /HRP đòi hỏi cùng một mảng xơ vữa thể hiện rõ ít nhất hai trong bốn đặc điểm nguy cơ cao: tỷ trọng thấp, tái cấu trúc dương tính, vôi hóa dạng chấm và dấu hiệu napkin-ring.
Tỷ trọng thấp được định nghĩa là dưới 30 HU, tái cấu trúc dương tính là chỉ số lớn hơn 1,1 và vôi hóa dạng chấm là đường kính dưới 3 mm; dấu hiệu napkin-ring không có ngưỡng số và được nhận ra qua hình dạng trên mặt cắt ngang.
SIS đếm số đoạn có mảng xơ vữa, không đếm số mảng: SIS 1–2 tương ứng P1; 3–4 là P2; 5–7 là P3; từ 8 trở lên là P4.
Điểm vôi hóa Agatston được tính trên loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang; giá trị 0 không loại trừ mảng xơ vữa không vôi hóa và, nếu có, gánh nặng mảng xơ vữa được gán bằng SIS.
Gánh nặng P1–P4 độc lập với mức độ hẹp; nếu các phương pháp không thống nhất thì dùng kết quả nặng nhất, và ở CAD-RADS 0 không gán P.
Hình 1. Các loại mảng xơ vữa trên mặt cắt ngang, với thang xám của CT. Mảng xơ vữa vôi hóa có tỷ trọng cao hơn lòng mạch ngấm thuốc cản quang, mảng xơ vữa không vôi hóa có tỷ trọng thấp hơn, và mảng xơ vữa vôi hóa một phần kết hợp cả hai thành phần.
Hình 2. Bốn đặc điểm nguy cơ cao. Ký hiệu bổ sung /HRP đòi hỏi ít nhất hai đặc điểm trên cùng một mảng xơ vữa. Tái cấu trúc dương tính được minh họa trên mặt cắt dọc: chỉ số tái cấu trúc là đường kính ngoài tại tổn thương chia cho trung bình của đường kính tham chiếu phía gần và phía xa, và dương tính khi lớn hơn 1,1.
Bảng 1. Phân loại gánh nặng mảng xơ vữa động mạch vành. Điểm vôi hóa Agatston chỉ được dùng nếu đã thu nhận loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang. Nếu các phương pháp không thống nhất, CAD-RADS 2.0 chỉ định dùng kết quả đánh giá nặng nhất.
Gánh nặng mảng xơ vữa
CAD-RADS
Đánh giá bằng mắt
SIS (số đoạn có mảng xơ vữa)
Điểm vôi hóa Agatston
Không có
Không có P (CAD-RADS 0)
Không có mảng xơ vữa
0
0
Nhẹ
P1
1–2 mạch có lượng mảng xơ vữa mức độ nhẹ
1–2
1–100
Trung bình
P2
1–2 mạch có lượng mảng xơ vữa mức độ trung bình, hoặc ba mạch có lượng mức độ nhẹ
3–4
101–300
Nặng
P3
Ba mạch có lượng mảng xơ vữa mức độ trung bình, hoặc một mạch có lượng mức độ nặng
5–7
301–999
Lan rộng
P4
2–3 mạch có lượng mảng xơ vữa mức độ nặng
≥8
≥1.000
Nguồn: SCCT 2026, Bảng 3, tr. 49, dựa trên CAD-RADS 2.0, Bảng 2. CAD-RADS 2.0 ghi “>1000” cho P4 theo điểm vôi hóa; SCCT 2026 ghi “≥1000”.
Tên khác:mảng xơ vữa động mạch vành, mảng vữa xơ, mảng xơ vữa động mạch, mảng vữa động mạch vành (atheroma)(thuật ngữ thường dùng trong hình ảnh nội mạch; trên CT mạch vành dùng “mảng xơ vữa”; SCCT 2024 về định lượng, mục 3), atherosclerotic plaque
Trên chụp CT mạch vành, mảng xơ vữa là mô thuộc thành mạch, nằm giữa lòng mạch ngấm thuốc cản quang và bờ ngoài của mạch, phân biệt được với lòng mạch và với mỡ quanh động mạch vành. Đối với đánh giá bằng mắt và các điểm số bán định lượng về gánh nặng mảng xơ vữa như SIS, tài liệu định lượng SCCT 2024 giữ định nghĩa truyền thống, đòi hỏi thêm diện tích ít nhất 1 mm² và mô phải được nhận diện trên ít nhất hai mặt phẳng độc lập.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần và đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần lan tỏa, mức hẹp tối đa là hẹp nhẹ (25–49%) tại LAD đoạn giữa.
Cần phân biệt với: Mảng xơ vữa là mô của thành mạch; hẹp là mức giảm đường kính lòng mạch so với một đoạn tham chiếu bình thường, không phải so với thành ngoài tại vị trí mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa có tái cấu trúc dương tính có thể không làm hẹp lòng mạch, còn một chỗ hẹp không có mảng xơ vữa, như ở động mạch vành bất thường có đường đi giữa hai đại động mạch, vẫn được phân độ theo cùng cách và kèm ký hiệu bổ sung E.
Nguồn: SCCT 2024 về định lượng, mục 4 và Bảng 2; SCCT 2026, phần diễn giải động mạch vành: mảng xơ vữa, hẹp và sai lầm khi diễn giải, tr. 8, 11, 13–15 và 28–29; CAD-RADS 2.0, mục 3.3.6 và Bảng 4, chú thích b; Karlo 2012, phần đánh giá và phần dương tính giả · “presence of tissue structures ≥1 mm² within or adjacent to the coronary artery lumen”
Chi tiết
Trong thực hành. Mỗi đoạn được khảo sát trên lát cắt axial, MIP lát mỏng, MPR chếch và tái tạo cong. Mảng xơ vữa nghi ngờ được xác nhận trên hai mặt phẳng: trên mặt cắt ngang vuông góc với đường trung tâm của mạch, nơi thể hiện rõ nhất kích thước và thành phần, và trên một mặt phẳng dọc. Cửa sổ được điều chỉnh để tách lòng mạch ngấm thuốc cản quang khỏi vôi hóa, và tách mảng xơ vữa không vôi hóa khỏi cơ tim và mỡ quanh động mạch vành; mặt phân cách với mỡ thường tương ứng với bờ ngoài của mạch. Nếu nghi ngờ xảo ảnh, cần xem thêm một pha khác: mảng xơ vữa thật thấy được ở cả hai pha và tách biệt với mô lân cận trên toàn bộ chu vi.
Lỗi cần tránh. Coi là mảng xơ vữa một hình ảnh chỉ thấy trên một mặt phẳng hoặc một pha. Sai lầm ngược lại cũng xảy ra: mảng xơ vữa không vôi hóa có thể bị coi là hiệu ứng thể tích từng phần trên lát cắt axial, hoặc bị bỏ sót nếu tỷ trọng gần với mỡ quanh động mạch vành, và một mảng xơ vữa vôi hóa nhỏ có thể có tỷ trọng bằng lòng mạch. Một thay đổi khẩu kính không giải thích được đòi hỏi phải xem lại đoạn đó, và loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang giúp nhận ra vôi hóa.
Trong các nguồn khác. Tài liệu định lượng SCCT 2024 lưu ý rằng CT mạch vành thường không phát hiện được mảng xơ vữa dày dưới 500 µm. Thuật ngữ SCCT 2023 không định nghĩa bản thân mảng xơ vữa mà định nghĩa ba loại của nó. (SCCT 2024 về định lượng, mục 2.3; Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4)
Các xảo ảnh và hình ảnh giống hoặc che khuất mảng xơ vữa, và cách phân biệt.
Hình ảnh gây nhầm
Ảnh hưởng đến mảng xơ vữa
Cách phân biệt
Chuyển động
Các vệt tỷ trọng cao hoặc thấp có thể bị nhầm với mảng xơ vữa vôi hóa hoặc không vôi hóa; vùng mờ nhòe cũng có thể che khuất một mảng xơ vữa thật
Xem một pha tái tạo khác: hình ảnh chỉ thấy ở một pha gợi ý xảo ảnh, còn mảng xơ vữa thật tách biệt với mô lân cận trên toàn bộ chu vi
Lệch giữa các khối dữ liệu
Hình bậc thang giống tổn thương; một đoạn mạch có thể bị mất hoặc lặp lại, và mảng xơ vữa bị ước tính thấp hoặc quá cao
Xem pha khác hoặc tắt chức năng hiệu chỉnh bờ
Hiệu ứng thể tích từng phần
Hẹp giả tại ranh giới giữa các khối và hẹp bị ước tính quá cao ở chỗ chia đôi và đoạn mạch xoắn vặn; trên lát cắt axial, mảng xơ vữa không vôi hóa có thể bị coi là hiệu ứng thể tích từng phần
MPR trực giao và tái tạo cong hoặc MIP lát mỏng; tại ranh giới giữa các khối, xem pha khác hoặc tắt chức năng hiệu chỉnh bờ
Blooming (vôi hóa hoặc stent)
Mảng xơ vữa vôi hóa trông lớn hơn và mức độ hẹp bị ước tính quá cao
Cửa sổ rộng hơn, lát cắt mỏng hơn, kernel sắc nét hơn hoặc ảnh đơn năng lượng ở mức keV cao
Cứng hóa chùm tia
Dải giảm tỷ trọng cạnh vôi hóa hoặc stent, giống mảng xơ vữa không vôi hóa hoặc tăng sinh nội mạc trong stent; cũng có thể che khuất một thành phần không vôi hóa thật
Xuất phát từ vôi hóa hoặc kim loại, có thể cải thiện ở pha khác và giảm khi dùng tái tạo lặp mức cao hơn hoặc ảnh đơn năng lượng ở mức keV cao
Ngấm thuốc cản quang không đủ hoặc trộn lẫn thuốc cản quang
Lòng mạch tỷ trọng thấp giống mảng xơ vữa không vôi hóa hoặc hẹp
Xem các pha khác, đổi cửa sổ và dùng lát cắt dày hơn; mảng xơ vữa thật làm dày thành mạch
Dày thành mạch do viêm mạch
Có thể nhầm với mảng xơ vữa
Gợi ý viêm mạch khi thành mạch dày đều, theo chu vi hoặc liên tục với vùng thâm nhiễm mỡ lân cận, và có ngấm thuốc; đây không phải mảng xơ vữa: mô tả riêng và kèm ký hiệu bổ sung E
Nguồn: SCCT 2026, tr. 24–29 và Bảng 4, tr. 50; SCCT 2024 về định lượng, mục 2.2; Karlo 2012, phần dương tính giả; Woodworth 2024, phần tóm tắt; CAD-RADS 2.0, mục 3.3.6
Trong CCTA Map
Mảng xơ vữa được ghi nhận là một tổn thương của đoạn. Tổn thương được đánh dấu bằng cách chạm vào một mạch hoặc kéo dọc theo mạch; trong cửa sổ mở ra, chọn “Mức độ” (các nút 0 đến 5, từ “bình thường” đến “100%”), “Loại mảng xơ vữa” (“Vôi hóa”, “Vôi hóa một phần” hoặc “Không vôi hóa”) và các đặc điểm nguy cơ cao trong mục “Đánh dấu”. Một nét kéo bắt đầu là “Vôi hóa một phần” với mức hẹp tối thiểu, và một mức độ lớn hơn 0 chưa chọn loại được lưu là “Vôi hóa một phần”. Tổn thương ở mức “bình thường” chỉ được tính là mảng xơ vữa khi đã chọn loại: khi đó phần tóm tắt hiển thị “Mảng xơ vữa: Có”, đoạn đó được tính vào SIS và, nếu không có tổn thương nào khác có mức độ hẹp, phân độ chuyển từ CAD-RADS 0 sang 1. Sơ đồ không ghi lại mảng xơ vữa đã được xác nhận trên mặt phẳng hay pha nào, và một chỗ hẹp không có mảng xơ vữa được đánh dấu là tổn thương vẫn được tính vào SIS và được viết thành mảng xơ vữa. Với mảng xơ vữa không gây hẹp, khi sửa bản nháp báo cáo, nên ghi loại mảng xơ vữa kèm cụm “không thấy hẹp lòng mạch”.
Tên khác:mảng vôi hóa, mảng xơ vữa canxi hóa, mảng cứng(gợi ý một tính chất cơ học mà CT không đánh giá được; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)không khuyến khích, calcified plaque
Theo SCCT 2026, tài liệu mà bảng thuật ngữ này tuân theo, mảng xơ vữa được gọi là vôi hóa khi phần lớn thể tích của nó có tỷ trọng cao hơn lòng mạch ngấm thuốc cản quang. Tiêu chí này dựa vào lòng mạch, không dựa vào một ngưỡng HU cố định.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa đậm đặc gây hẹp trung bình (50–69%); xảo ảnh blooming có thể làm mức độ hẹp bị ước tính quá cao.
Cần phân biệt với: Mảng xơ vữa vôi hóa không đồng nghĩa với đoạn không đánh giá được: nếu đánh giá được lòng mạch, ghi mức hẹp lớn nhất nhìn thấy được kèm lưu ý về blooming; đoạn chỉ không đánh giá được khi xảo ảnh khiến không thể đánh giá lòng mạch một cách tin cậy.
nếu đánh dấu “N” do blooming, mảng xơ vữa vôi hóa của đoạn đó bị xóa mà không có lựa chọn “Hoàn tác”; chưa được sửa (đã kiểm tra trên sơ đồ ngày 2026-10-08).
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa, tr. 13 · “(largely) calcified plaque: attenuation values of most of the plaque exceed the values of the contrast-enhanced blood”
Chi tiết
Trong thực hành. Đánh giá trên mặt cắt ngang vuông góc với trục mạch, với cửa sổ rộng và, nếu có, kernel sắc nét hơn để giảm blooming. Khi có vôi hóa đậm đặc, ghi mức độ hẹp lớn nhất nhìn thấy được và lưu ý rằng mức độ này có thể bị ước tính quá cao.
Lỗi cần tránh. Ngưỡng 130 HU của điểm vôi hóa Agatston không dùng để xác định mảng xơ vữa vôi hóa. Trên CT mạch vành, mốc tham chiếu là tỷ trọng của lòng mạch ngấm thuốc cản quang.
Trong các nguồn khác. Trong định lượng mảng xơ vữa bán tự động, phần lớn phần mềm coi mô trên 350 HU là vôi hóa đậm đặc. Thuật ngữ SCCT 2023 định nghĩa mảng xơ vữa vôi hóa là mảng có tỷ trọng toàn bộ phù hợp với vôi hóa; bảng thuật ngữ này theo tiêu chí đánh giá bằng mắt của SCCT 2026, lấy lòng mạch ngấm thuốc cản quang làm mốc và đòi hỏi phần lớn mảng xơ vữa vượt quá mốc đó. (SCCT 2024 về định lượng, mục 4.2; Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4)
Trong CCTA Map
Trong cửa sổ chỉnh sửa tổn thương, loại “Vôi hóa” vô hiệu hóa các nút “⬤ Tỷ trọng thấp” và “◎ Dấu hiệu napkin-ring”, đồng thời xóa hai đặc điểm này nếu mảng xơ vữa đã có. Nếu mức hẹp từ 50 đến 99%, mẫu báo cáo thêm lưu ý có thể ước tính quá cao do blooming vào phần Mô tả và phần Kết luận. Hạn chế của công cụ: nút “N” xóa mảng xơ vữa của đoạn được đánh dấu, dù vẫn giữ các phần của cùng nét vẽ ở các đoạn lân cận; bỏ N không khôi phục lại mảng xơ vữa và, khác với “Xóa tổn thương này”, không xuất hiện thông báo “Hoàn tác”. Nếu blooming khiến không thể phân độ mức hẹp lòng mạch và đoạn đó được đánh dấu “N”, nên mô tả mảng xơ vữa khi sửa bản nháp báo cáo, và chỉ cố định P bằng “Điểm vôi hóa (Agatston)” hoặc “Chọn P” khi gánh nặng mảng xơ vữa toàn bộ có thể đánh giá được một cách tin cậy.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp trung bình (50-69%), mức độ hẹp có thể bị ước tính quá cao do xảo ảnh blooming của vôi hóa; phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ trung bình. Phân độ CAD-RADS 3/P1.
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở LAD.
Vôi hóa đậm đặc có thể làm mức độ hẹp bị ước tính quá cao (xảo ảnh blooming); nếu hướng xử trí phụ thuộc vào mức độ hẹp, cân nhắc CT-FFR hoặc nghiệm pháp chức năng.
Hình 3. Thành phần mảng xơ vữa được đánh giá so với tỷ trọng lòng mạch của từng khảo sát. Ngưỡng 130 HU thuộc về điểm vôi hóa Agatston, được tính trên loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang.
Mảng xơ vữa vôi hóa một phần Partially calcified plaque#
Tên khác:mảng hỗn hợpkhông khuyến khích, mảng xơ vữa hỗn hợp(Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)không khuyến khích, mảng xơ vữa không vôi hóa một phần(thuật ngữ của SCCT 2014), mảng xơ vữa canxi hóa một phần, partially calcified plaque
Mảng xơ vữa có cả thành phần vôi hóa và thành phần không vôi hóa. SCCT dùng tên này, không dùng “mảng hỗn hợp”. Nếu một thành phần chiếm ít nhất 75%, có thể gọi là mảng xơ vữa ưu thế vôi hóa hoặc ưu thế không vôi hóa.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần, ưu thế vôi hóa, gây hẹp nhẹ (25–49%).
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa, tr. 13 · “partially calcified: with both calcified and non-calcified components (Fig 6). A partially calcified plaque can be specified as predominantly calcified with ≥ 75 % of the plaque component calcified”
Chi tiết
Trong thực hành. Khảo sát trên mặt cắt ngang và trên tái tạo đa mặt phẳng, giúp phân biệt thành phần không vôi hóa với mỡ quanh động mạch vành. Loại mảng xơ vữa được ghi cho từng đoạn; mức độ ưu thế là từ bổ nghĩa không bắt buộc trong phần mô tả.
Lỗi cần tránh. Mảng xơ vữa có thể bị coi là vôi hóa nếu xảo ảnh cứng hóa chùm tia cạnh vôi hóa che khuất thành phần không vôi hóa. Nên xem lại với cửa sổ rộng và trên nhiều mặt phẳng.
Trong các nguồn khác. SCCT 2014 gọi là “mảng xơ vữa không vôi hóa một phần” và liệt kê riêng “ưu thế vôi hóa” và “ưu thế không vôi hóa”, không có ngưỡng phần trăm. Nhiều bài báo dùng tên “mảng hỗn hợp”, tên mà Thuật ngữ SCCT 2023 xếp vào nhóm không khuyến cáo và tài liệu định lượng SCCT 2024 cũng không khuyến khích. (SCCT 2014, mục 10.6.2; Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)
Trong CCTA Map
Trong cửa sổ chỉnh sửa, đánh dấu bằng nút “Vôi hóa một phần”; loại này cho phép chọn cả bốn đặc điểm nguy cơ cao. Mẫu báo cáo mô tả là “mảng xơ vữa vôi hóa một phần”.
Tên khác:mảng mềmkhông khuyến khích, mảng lipidkhông khuyến khích, mảng giàu lipid(SCCT 2026, tr. 13; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)không khuyến khích, mảng xơkhông khuyến khích, mảng xơ-mỡ(gợi ý một mô bệnh học mà CT không đánh giá được; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)không khuyến khích, mảng xơ vữa không canxi hóa, non-calcified plaque
Mảng xơ vữa không vôi hóa là mảng có tỷ trọng thấp hơn lòng mạch ngấm thuốc cản quang. SCCT khuyến cáo dùng thuật ngữ này thay cho “mảng mềm” hoặc “mảng giàu lipid”.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa, không thấy hẹp lòng mạch.
Cần phân biệt với: “Không thấy hẹp lòng mạch” tương ứng với mức 0% của CAD-RADS 2.0 (“No visible stenosis”). “Không hẹp đáng kể” không phải là một mức trong thang phân độ: cụm này không cho biết lòng mạch có hẹp hay không và hẹp bao nhiêu.
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa, tr. 13 · “non-calcified plaque: attenuation values of the plaque are below the values of the contrast-enhanced blood”
Chi tiết
Trong thực hành. Ngoài lát cắt axial, cần tìm trên tái tạo đa mặt phẳng trực giao và tái tạo cong, vì trên lát cắt axial mảng xơ vữa có thể bị bỏ sót hoặc nhầm với hiệu ứng thể tích từng phần. Mảng xơ vữa cũng có thể bị nhầm với mỡ quanh động mạch vành. Một thay đổi khẩu kính không giải thích được đòi hỏi phải xem lại đoạn đó.
Lỗi cần tránh. Gọi là “mảng mềm” hoặc “mảng lipid” là không chính xác, vì tỷ trọng của mảng xơ vữa phụ thuộc vào kVp và mức ngấm thuốc của lòng mạch, và không dự báo được mô bệnh học ở từng bệnh nhân.
Trong các nguồn khác. Các phần mềm định lượng chia nhỏ mảng xơ vữa không vôi hóa theo khoảng HU, với các tên như xơ, xơ-mỡ hoặc lõi hoại tử. Ngưỡng và tên gọi khác nhau giữa các phần mềm, và SCCT 2024 không khuyến khích gọi là “mảng xơ”. (SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1 và 4.2, Hình 3)
Trong CCTA Map
Trong cửa sổ chỉnh sửa, ở mục “Loại mảng xơ vữa”, đánh dấu bằng nút “Không vôi hóa”; mẫu báo cáo mô tả là “mảng xơ vữa không vôi hóa” tại đoạn tương ứng. Hạn chế của công cụ: mảng xơ vữa đánh dấu ở 0% được viết là “mảng xơ vữa không gây hẹp đáng kể”, không kèm loại; khi một đoạn có hai mảng xơ vữa, mẫu báo cáo mô tả mảng có mức độ hẹp cao hơn, còn mảng kia chỉ xuất hiện, dưới dạng “trong cùng đoạn này, thêm một …”, nếu có đánh dấu đặc điểm nguy cơ cao. Chỉ phần văn bản bị sai: phân độ và P vẫn đúng (trong ca đã tái hiện: 1/P1). Khi sửa bản nháp báo cáo, nên ghi thành phần, thay cụm đó bằng “không thấy hẹp lòng mạch” và mô tả mảng xơ vữa thứ hai.
Tên khác:mảng xơ vữa dễ vỡ(CAD-RADS 2.0 đã thay bằng HRP; không được khuyến khích trong Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4, và SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)không khuyến khích, ký hiệu bổ sung V(CAD-RADS 1.0; CAD-RADS 2.0 đã thay bằng HRP)không khuyến khích, mảng xơ vữa bất lợi(Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4; trong SCOT-HEART chỉ cần một đặc điểm)không khuyến khích, mảng xơ vữa không ổn định(bảng thuật ngữ dùng “mảng xơ vữa nguy cơ cao”, như CAD-RADS 2.0)không dùng trong bảng thuật ngữ này, high-risk plaque
Theo CAD-RADS 2.0, mảng xơ vữa nguy cơ cao là mảng thể hiện rõ ít nhất hai trong bốn đặc điểm (tỷ trọng thấp, tái cấu trúc dương tính, vôi hóa dạng chấm và dấu hiệu napkin-ring). Mảng này được ghi bằng ký hiệu bổ sung /HRP.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ (25–49%), có hai đặc điểm nguy cơ cao: tỷ trọng thấp và tái cấu trúc dương tính.
Cần phân biệt với: Một đặc điểm nguy cơ cao đơn lẻ có thể được nêu trong phần Mô tả nhưng không thêm /HRP: ký hiệu bổ sung đòi hỏi ít nhất hai đặc điểm rõ ràng trên cùng một mảng xơ vữa.
Nguồn: CAD-RADS 2.0, mục 3.3.4 và Hình 15 · “If a coronary plaque clearly demonstrates two or more high-risk features by CCTA, the modifier “HRP” (high risk plaque) should be added”
Chi tiết
Trong thực hành. Mỗi mảng xơ vữa được khảo sát trên mặt cắt ngang và đếm số đặc điểm có mặt. Nếu có từ hai đặc điểm trở lên, thêm /HRP vào phân độ và nêu tên các đặc điểm trong phần Mô tả.
Lỗi cần tránh. Không cộng đặc điểm của các mảng xơ vữa khác nhau để đủ hai. Ký hiệu bổ sung đòi hỏi các đặc điểm nằm trên cùng một mảng xơ vữa.
Trong các nguồn khác. CAD-RADS 1.0 dùng ký hiệu bổ sung “V” (vulnerability, dễ vỡ) với cùng tiêu chí từ hai đặc điểm trở lên; CAD-RADS 2.0 đã thay bằng “HRP”. Trong SCOT-HEART, “mảng xơ vữa bất lợi” (adverse plaque) được định nghĩa bằng tái cấu trúc dương tính hoặc tỷ trọng thấp; chỉ cần một trong hai. Thuật ngữ SCCT 2023 không khuyến cáo các tên “đặc điểm mảng xơ vữa dễ vỡ” và “đặc điểm mảng xơ vữa bất lợi”, và tài liệu định lượng SCCT 2024 không khuyến khích dùng “mảng xơ vữa dễ vỡ”. (CAD-RADS 1.0, mục 3.3.4; CAD-RADS 2.0, mục 3.3; Williams 2019, SCOT-HEART; Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)
Trong CCTA Map
Bốn đặc điểm nằm trong cửa sổ chỉnh sửa của từng tổn thương, ở mục “Đánh dấu”, kèm bộ đếm “HRP n/4” đếm các đặc điểm của mảng đó và chuyển thành “⚠ HRP n/4” khi đạt hai. Các đặc điểm được lưu theo từng mảng xơ vữa: ký hiệu bổ sung /HRP xuất hiện khi cùng một mảng có từ hai đặc điểm trở lên, còn hai mảng mỗi mảng có một đặc điểm thì không kích hoạt, kể cả khi nằm trong cùng một đoạn. Một mảng xơ vữa vẽ bằng một nét qua hai đoạn được tính là một mảng và mang cùng các đặc điểm ở cả hai đoạn. Nếu mảng xơ vữa chỉ có một đặc điểm, mẫu báo cáo mô tả đó là đặc điểm đơn lẻ của mảng ấy.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ (25-49%) kèm đặc điểm mảng xơ vữa nguy cơ cao (tỷ trọng thấp và tái cấu trúc dương tính); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp nhẹ (25-49%) kèm một đặc điểm đơn lẻ là vôi hóa dạng chấm; phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn mức độ nhẹ. Phân độ CAD-RADS 2/P1/HRP.
Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn ở LAD và RCA.
Hình 4. Ký hiệu bổ sung /HRP đòi hỏi hai đặc điểm trên cùng một mảng xơ vữa. Hai mảng xơ vữa, mỗi mảng có một đặc điểm, không kích hoạt ký hiệu này; các đặc điểm được nêu trong phần Mô tả.
Tên khác:tỷ trọng thấp, mảng xơ vữa đậm độ thấp(bảng thuật ngữ dùng “tỷ trọng”, attenuation, như SCCT)không dùng trong bảng thuật ngữ này, low-attenuation plaque (LAP)
Theo CAD-RADS 2.0 và SCCT 2026, mảng xơ vữa không vôi hóa có tỷ trọng thấp, một trong các đặc điểm nguy cơ cao, khi tỷ trọng bên trong dưới 30 HU. Giá trị này phụ thuộc vào kVp và mức ngấm thuốc của lòng mạch.
Cách viết trong báo cáo
LCx đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa tỷ trọng thấp, gây hẹp nhẹ (25–49%).
Cần phân biệt với: Không phải mọi mảng xơ vữa không vôi hóa đều có tỷ trọng thấp: theo CAD-RADS 2.0, đặc điểm này đòi hỏi tỷ trọng bên trong của thành phần không vôi hóa dưới 30 HU.
Nguồn: CAD-RADS 2.0, Hình 15; SCCT 2026, tr. 13–14 · “Low attenuation plaque, defined as non-calcified plaque with internal attenuation less than 30 HU.”
Chi tiết
Trong thực hành. Đo trên mặt cắt ngang bằng một vùng quan tâm (ROI) nhỏ, đặt ở phần giảm tỷ trọng nhất của mảng xơ vữa, xa lòng mạch, vôi hóa và mỡ quanh động mạch vành. Cần lưu ý mức kVp khi thu nhận.
Lỗi cần tránh. Đo cạnh vôi hóa đậm đặc hoặc ở bờ tiếp giáp với mỡ quanh động mạch vành cho giá trị thấp giả, do cứng hóa chùm tia và hiệu ứng thể tích từng phần.
Trong các nguồn khác. Trong định lượng thể tích, giới hạn trên của nhóm tỷ trọng thấp nhất dao động từ 30 đến 75 HU tùy phần mềm, và SCCT 2024 không đặt ngưỡng tuyệt đối. Bảng thuật ngữ này theo CAD-RADS 2.0. (SCCT 2024 về định lượng, mục 4.2)
Trong CCTA Map
Đánh dấu bằng nút “⬤ Tỷ trọng thấp” trong cửa sổ chỉnh sửa; nút này bị vô hiệu hóa khi loại mảng xơ vữa là “Vôi hóa”.
Tên khác:tái định dạng dương tính, tái cấu trúc ra ngoài, tái cấu trúc giãn rộng, positive remodeling
Theo CAD-RADS 2.0 và SCCT 2026, có tái cấu trúc dương tính khi đường kính ngoài của mạch tại vị trí mảng xơ vữa lớn hơn đường kính tham chiếu trên 10% (chỉ số tái cấu trúc lớn hơn 1,1). Đây là một đặc điểm nguy cơ cao.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa có tái cấu trúc dương tính, không thấy hẹp lòng mạch.
Cần phân biệt với: Tái cấu trúc dương tính không kèm hẹp lòng mạch không phải là CAD-RADS 0: CAD-RADS 2.0 xếp mảng xơ vữa có tái cấu trúc dương tính không gây hẹp vào phân độ 1.
Nguồn: CAD-RADS 2.0, Hình 15; SCCT 2026, tr. 13 · “Positive remodeling, defined as the ratio of outer vessel diameter at the site of plaque divided by the average outer diameter of the proximal and distal vessel greater than 1.1”
Chi tiết
Trong thực hành. Trên mặt cắt ngang, đo đường kính ngoài của mạch, giữa hai bờ ngoài của thành mạch, tại vị trí mảng xơ vữa và tại các đoạn lành phía gần và phía xa. Chỉ số bằng đường kính tại tổn thương chia cho trung bình của hai đường kính tham chiếu.
Lỗi cần tránh. Đo lòng mạch thay cho bờ ngoài để tính chỉ số là sai. Mức độ hẹp cũng không được phân độ so với thành mạch đã tái cấu trúc, mà so với các đoạn bình thường.
Trong các nguồn khác. Tài liệu định lượng SCCT 2024 tính chỉ số bằng diện tích mạch, không bằng đường kính; chỉ số được coi là dương tính từ 1,10 và âm tính khi dưới 0,90. Bảng thuật ngữ này dùng đường kính, như CAD-RADS 2.0. (SCCT 2024 về định lượng, Bảng 2)
Trong CCTA Map
Đánh dấu bằng nút “⬈ Tái cấu trúc dương tính” trong cửa sổ chỉnh sửa; nút này vẫn dùng được khi loại mảng xơ vữa là “Vôi hóa”.
Tên khác:vôi hóa spotty(lai với thuật ngữ tiếng Anh spotty calcification)không dùng trong bảng thuật ngữ này, vôi hóa lấm tấm, nốt vôi hóa nhỏ, spotty calcification
Theo SCCT 2026, vôi hóa dạng chấm là ổ vôi hóa có đường kính dưới 3 mm nằm trong một mảng xơ vữa. Đây là một trong các đặc điểm nguy cơ cao.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần có vôi hóa dạng chấm, gây hẹp nhẹ (25–49%).
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa, tr. 13 · “Features of high-risk plaque (HRP) include positive remodeling (outer vessel diameter >10% larger than the reference diameter), spotty calcification (diameter <3 mm)”
Chi tiết
Trong thực hành. Đo đường kính lớn nhất của ổ vôi hóa trên mặt cắt ngang và trên tái tạo cong, với cửa sổ rộng để hạn chế blooming. Nếu ổ vôi hóa từ 3 mm trở lên thì không còn đạt tiêu chí.
Lỗi cần tránh. Một mảng xơ vữa vôi hóa nhỏ đơn độc không phải là vôi hóa dạng chấm. Đặc điểm này mô tả một ổ vôi hóa dưới 3 mm nằm trong một mảng xơ vữa.
Trong các nguồn khác. Một số tác giả định nghĩa theo kích thước mạch: chiều dài dưới 1,5 lần đường kính mạch và chiều rộng dưới hai phần ba đường kính đó. Bảng thuật ngữ này theo giới hạn 3 mm của SCCT 2026. (van Rosendael 2024, Bảng 1; Yang 2021, phần Phương pháp)
Trong CCTA Map
Trong cửa sổ chỉnh sửa, đánh dấu bằng nút “⦿ Vôi hóa dạng chấm”; mẫu báo cáo ghi là “vôi hóa dạng chấm”.
Tên khác:dấu hiệu nhẫn khăn ăn, dấu hiệu vòng nhẫn, napkin-ring sign
Đặc điểm nguy cơ cao này được nhận ra trên mặt cắt ngang của mảng xơ vữa không vôi hóa: một vùng trung tâm tỷ trọng thấp, có vẻ tiếp xúc với lòng mạch, được bao quanh bởi một vòng có tỷ trọng cao hơn.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa có dấu hiệu napkin-ring, gây hẹp trung bình (50–69%).
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa, tr. 14 · “napkin-ring sign (central low attenuation apparently in contact with the lumen surrounded by ring-like higher-attenuation plaque tissue)”
Chi tiết
Trong thực hành. Tìm trên mặt cắt ngang vuông góc với đường trung tâm của mạch, với cửa sổ tách rõ các mức xám của mảng xơ vữa. Vòng này là mô không vôi hóa, đậm hơn vùng trung tâm, không phải vôi hóa.
Lỗi cần tránh. Vòng vôi hóa của mảng xơ vữa vôi hóa một phần và xảo ảnh thể tích từng phần ở mặt phân cách giữa mảng xơ vữa và lòng mạch có thể giống dấu hiệu này.
Trong các nguồn khác. Một số bài tổng quan nêu rõ vòng ngoại vi không vượt quá 130 HU, và một số nghiên cứu gọi đây là ngấm thuốc dạng vòng (ring-like enhancement). Đồng thuận SCCT 2024 về định lượng nói rõ dấu hiệu này không đòi hỏi đo tỷ trọng. (van Rosendael 2024, Bảng 1; Pozo 2016; SCCT 2024 về định lượng, mục 4.1)
Trong CCTA Map
Cửa sổ chỉnh sửa ghi nhận dấu hiệu này bằng nút “◎ Dấu hiệu napkin-ring”; nút bị vô hiệu hóa khi loại mảng xơ vữa là “Vôi hóa”.
Tên khác:tổng lượng mảng xơ vữa, gánh nặng xơ vữa, tổng gánh nặng mảng xơ vữa động mạch vành, ký hiệu bổ sung P(CAD-RADS 2.0 gọi là phân nhóm P và tách khỏi các ký hiệu bổ sung)không dùng trong bảng thuật ngữ này, plaque burden
Theo CAD-RADS 2.0, tài liệu mà bảng thuật ngữ này tuân theo, gánh nặng mảng xơ vữa là tổng lượng mảng xơ vữa động mạch vành của bệnh nhân, độc lập với mức độ hẹp. Gánh nặng được biểu thị là P1 (nhẹ), P2 (trung bình), P3 (nặng) hoặc P4 (lan rộng), dựa trên SIS, điểm vôi hóa Agatston hoặc đánh giá bằng mắt.
Cách viết trong báo cáo
Xơ vữa động mạch vành với gánh nặng mảng xơ vữa nặng (P3; SIS 5) và mức hẹp tối đa là hẹp nhẹ (25–49%). CAD-RADS 2/P3.
Điều kiện của ví dụ: Tất cả các đoạn có đường kính trên 1,5 mm đều đánh giá được, không phương pháp nào khác cho P cao hơn (nếu có, dùng kết quả nặng nhất) và không có ký hiệu bổ sung nào áp dụng; nếu có một đoạn không đánh giá được, ghi CAD-RADS N/P3, hoặc N không kèm P nếu không thể đánh giá tin cậy gánh nặng mảng xơ vữa toàn bộ.
Cần phân biệt với: Gánh nặng mảng xơ vữa (P1–P4) tóm tắt lượng mảng xơ vữa trên toàn bộ cây động mạch vành; phân độ hẹp (0–5) dựa vào chỗ hẹp nặng nhất. P3 với mức hẹp tối đa là hẹp nhẹ vẫn là CAD-RADS 2.
P lấy từ một phương pháp duy nhất, không phải phương pháp cho kết quả nặng nhất, và “Tự động (sơ đồ)” bỏ qua mảng xơ vữa của cầu nối và của các đoạn N; chưa được sửa (đã kiểm tra trên sơ đồ ngày 2026-10-08).
Nguồn: SCCT 2026, phần nội dung và Bảng 3, tr. 14 và 49; CAD-RADS 2.0, mục 3.2.1 · “CAD-RADS 2.0 introduces the P1 to P4 descriptors which are used to denote increasing categories of plaque burden (P1=mild, P2=moderate, P3=severe and P4=extensive)”
Chi tiết
Trong thực hành. SCCT 2026 khuyến cáo ước lượng gánh nặng bằng mắt và kết hợp với điểm vôi hóa Agatston, nếu đã thu nhận, hoặc với SIS. Nếu dùng nhiều phương pháp, CAD-RADS 2.0 chỉ định dùng kết quả đánh giá nặng nhất. Ở CAD-RADS 0 không gán P, và khi có N chỉ gán P nếu đánh giá được gánh nặng mảng xơ vữa toàn bộ một cách tin cậy.
Lỗi cần tránh. Nếu có nhiều mảng xơ vữa không vôi hóa, không nên gán P chỉ dựa vào điểm vôi hóa Agatston, vì gánh nặng sẽ bị ước tính thấp. Khi đó, gán P bằng SIS hoặc bằng đánh giá bằng mắt.
Trong các nguồn khác. Trong định lượng mảng xơ vữa bằng CT, “gánh nặng mảng xơ vữa” (plaque burden) còn chỉ tỷ lệ phần trăm diện tích hoặc thể tích mạch bị mảng xơ vữa chiếm. Bảng thuật ngữ này dùng theo nghĩa của CAD-RADS 2.0, chỉ tổng lượng mảng xơ vữa của bệnh nhân. (SCCT 2024 về định lượng, Bảng 2)
Trong CCTA Map
Khi mở “Bổ sung P · I ▾”, mục “Gánh nặng mảng xơ vữa (P)” lấy P từ một trong ba nguồn: “Tự động (sơ đồ)”, dùng SIS của sơ đồ; “Điểm vôi hóa (Agatston)”, với điểm số được nhập; hoặc “Chọn P”, để cố định thủ công hoặc để trống bằng “—”. Mẫu báo cáo ghi, ví dụ, “Gánh nặng mảng xơ vữa: nhẹ (P1; SIS 2).” Khi có N, dù do một đoạn được đánh dấu hay do lựa chọn “không đủ để chẩn đoán” ở ô “Chất lượng”, sơ đồ vẫn ghi P theo chế độ đã chọn; nếu không thể đánh giá tin cậy gánh nặng mảng xơ vữa toàn bộ, bỏ P bằng “Chọn P” và “—”. Hạn chế của công cụ: mỗi chế độ chỉ dùng một nguồn, nên sơ đồ không chọn kết quả nặng nhất; “Tự động (sơ đồ)” không tính mảng xơ vữa trong cầu nối, và một đoạn được đánh dấu “N” mất mảng xơ vữa và không còn được tính mà không có cảnh báo. Trong các trường hợp này, cố định P bằng “Chọn P” sau khi đánh giá chung mảng xơ vữa của mạch tự nhiên và của cầu nối, và của các đoạn N nếu thấy được một cách tin cậy.
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp tối thiểu (1-24%); đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp nhẹ (25-49%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch mũ (LCx): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp tối thiểu (1-24%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh OM1, OM2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp tối thiểu (1-24%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn mức độ nhẹ. Phân độ CAD-RADS 2/P3.
Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn ở LM, LAD, LCx và RCA.
Điểm số đoạn bị tổn thương Segment involvement scoreSIS#
Tên khác:số đoạn có mảng xơ vữa, điểm số theo số đoạn động mạch vành bị tổn thương, segment involvement score
SIS đếm các đoạn động mạch vành có mảng xơ vữa, với mọi thành phần và mọi mức độ hẹp: mỗi đoạn có mảng xơ vữa được 1 điểm. CAD-RADS 2.0 tính trên 16 đoạn, không liệt kê cụ thể, với tối đa 16 điểm, và SCCT 2026 giữ mức tối đa này dù mô hình của SCCT có 18 đoạn. SIS có độ lặp lại cao hơn ước lượng gánh nặng bằng mắt.
P tính từ SIS không cộng mảng xơ vữa của cầu nối, và nút “N” xóa mảng xơ vữa của đoạn được đánh dấu; chưa được sửa (đã kiểm tra trên sơ đồ ngày 2026-10-08).
Nguồn: SCCT 2026, phần thể tích mảng xơ vữa, tr. 14 · “A score of 1 is given for each segment with plaque, with the highest possible score of 16.”
Chi tiết
Trong thực hành. Khảo sát cây động mạch vành theo từng đoạn và đếm mọi đoạn có mảng xơ vữa, dù là tối thiểu. Nếu mảng xơ vữa nằm ở chỗ nối giữa hai đoạn, kể cả chỗ chia đôi, gán cho đoạn phía trước. Ví dụ với đồng ưu thế và có nhánh trung gian: một mảng xơ vữa bắt đầu ở LM và kéo dài sang LAD đoạn gần được 2 điểm; hai mảng xơ vữa riêng biệt ở LAD đoạn giữa được 1 điểm; một mảng ở nhánh trung gian, một mảng ở R-PDA và một mảng ở L-PDA được 3 điểm. SIS bằng 6, tương ứng P3. Nếu có thêm mảng xơ vữa ở nhánh bờ nhọn, nhánh không được đánh số trong Bảng 1 của SCCT 2026, sơ đồ vẫn tính và SIS bằng 7, cũng là P3. Nếu không tính nhánh này sẽ thiếu một điểm, và ở ranh giới giữa hai nhóm, ví dụ từ 5 xuống 4 đoạn, một điểm đó làm thay đổi P.
Lỗi cần tránh. Đếm số mảng xơ vữa thay vì số đoạn là sai. Một mảng xơ vữa dài ở LAD đoạn gần và đoạn giữa được 2 điểm, còn ba mảng xơ vữa trong một đoạn chỉ được 1 điểm.
Trong các nguồn khác. Một số nghiên cứu gọi là bệnh “lan rộng” khi có mảng xơ vữa ở hơn 4 đoạn. Bảng thuật ngữ này theo CAD-RADS 2.0, trong đó 5 đến 7 đoạn tương ứng P3 (nặng) và chỉ từ 8 đoạn trở lên mới là P4 (lan rộng). (Bittencourt 2014; SCCT 2026, Bảng 3)
Cách sơ đồ đếm SIS. Mỗi đoạn có trên sơ đồ có mảng xơ vữa được 1 điểm, dù có một hay nhiều mảng và với bất kỳ mức độ hẹp nào; đoạn được đánh dấu “N” không được tính. Cột cuối phân biệt điều do hướng dẫn quy định với điều là quy ước của sơ đồ.
Đoạn trên sơ đồ
Số thứ tự trong SCCT 2026
Khi nào được 1 điểm trên sơ đồ
Nguồn gốc quy tắc
Thân chung (LM)
5
Nếu có mảng xơ vữa. Với giải phẫu không có thân chung, chọn trong “Nguyên ủy động mạch vành”, đoạn này bị bỏ khỏi sơ đồ và không được tính
SCCT 2026
LAD đoạn gần, LAD đoạn giữa và LAD đoạn xa
6, 7 và 8
Nếu có mảng xơ vữa
SCCT 2026
Nhánh chéo 1 (D1) và nhánh chéo 2 (D2)
9 và 10
Nếu có mảng xơ vữa
SCCT 2026
Nhánh trung gian (RI)
17
Nếu có mảng xơ vữa và có nhánh này. Với “Không có nhánh trung gian”, hoặc khi không có thân chung, mảng xơ vữa của nhánh vẫn được giữ nhưng không được tính
SCCT 2026
LCx đoạn gần và LCx đoạn giữa–xa
11 và 13 (Bảng 1 gọi đoạn 13 là đoạn xa)
Nếu có mảng xơ vữa
SCCT 2026
Nhánh bờ tù 1 (OM1) và nhánh bờ tù 2 (OM2)
12 và 14
Nếu có mảng xơ vữa
SCCT 2026
RCA đoạn gần, RCA đoạn giữa và RCA đoạn xa
1, 2 và 3
Nếu có mảng xơ vữa
SCCT 2026
Nhánh bờ nhọn (AM)
Không đánh số
Nếu có mảng xơ vữa, với bất kỳ kiểu ưu thế nào
Quy ước của sơ đồ: SCCT 2026 mô tả nhánh này trong phần nội dung nhưng không đánh số và không nói có được tính hay không
Nhánh liên thất sau phải (R-PDA) và nhánh sau bên phải (R-PLB)
4 và 16
Nếu có mảng xơ vữa và kiểu ưu thế là “Phải” hoặc “Cân bằng”
R-PDA theo định nghĩa ưu thế của SCCT 2026; việc R-PLB chỉ có với các kiểu ưu thế này là quy ước của sơ đồ
Nhánh liên thất sau trái (L-PDA) và nhánh sau bên trái (L-PLB)
15 và 18
Nếu có mảng xơ vữa và kiểu ưu thế là “Trái” hoặc “Cân bằng”
L-PDA theo định nghĩa ưu thế của SCCT 2026; việc L-PLB chỉ có với các kiểu ưu thế này là quy ước của sơ đồ
Tổng
Tối đa 16
Cộng các đoạn có mảng xơ vữa và giới hạn tổng ở 16. Khi có nhánh trung gian, sơ đồ có 17 đoạn với ưu thế phải hoặc trái và 19 đoạn với đồng ưu thế. Mức trần này không làm thay đổi P: từ 8 đoạn đã là P4
Mức tối đa là của SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0; việc áp dụng làm mức trần trên 17 hoặc 19 đoạn là quy ước của sơ đồ
Nguồn: SCCT 2026, Bảng 1, tr. 47, và phần nội dung, tr. 11–12 và 14; CAD-RADS 2.0, mục 3.2.1. Cột thứ ba mô tả sơ đồ, đã kiểm tra ngày 2026-10-09.
Trong CCTA Map
Trong “Bổ sung P · I ▾”, mục “Gánh nặng mảng xơ vữa (P)”, chế độ “Tự động (sơ đồ)” đếm các đoạn có trên sơ đồ có mảng xơ vữa và chuyển tổng số thành P1–P4; bảng điều khiển hiển thị, ví dụ, “SIS 3 đoạn → P2”, và mẫu báo cáo ghi “Gánh nặng mảng xơ vữa: trung bình (P2; SIS 3).” Nhiều mảng xơ vữa trong một đoạn được 1 điểm, và một mảng vẽ bằng một nét qua hai đoạn được tính ở cả hai đoạn. Bảng trong phần “Chi tiết” của mục này cho biết những đoạn nào được tính và quy tắc nào là quy ước của sơ đồ. Hạn chế của công cụ: một đoạn có stent không tái hẹp và không có mảng xơ vữa khác thì không được tính, và cả SCCT 2026 lẫn CAD-RADS 2.0 đều không nói có nên tính hay không; P tự động cũng không gồm mảng xơ vữa của cầu nối, mà CAD-RADS 2.0 yêu cầu đánh giá cùng với mạch tự nhiên. Trong các trường hợp đó, và nếu đánh dấu “N” ở một đoạn có mảng xơ vữa, cố định P bằng “Chọn P”.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Gánh nặng mảng xơ vữa: trung bình (P2; SIS 3).
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ (25-49%); đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ (25-49%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp tối thiểu (1-24%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn mức độ nhẹ. Phân độ CAD-RADS 2/P2.
Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn ở LAD và RCA.
SIS 0Không có mảng xơ vữa
Hình 5. Bộ đếm SIS. Chạm vào từng đoạn có mảng xơ vữa, với mọi thành phần và mọi mức độ hẹp; bộ đếm cộng một điểm cho mỗi đoạn và hiển thị nhóm gánh nặng mảng xơ vữa tương ứng. Chạm lại vào một đoạn để bỏ chọn.
Tên khác:điểm vôi hóa mạch vànhkhông khuyến khích, chỉ số vôi hóa động mạch vànhkhông khuyến khích, calcium score(Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4, ưu tiên “Agatston score”; CAD-RADS 2.0 và SCCT 2026 vẫn viết “calcium score”)không khuyến khích, Agatston score, thang điểm Agatstonkhông dùng trong bảng thuật ngữ này, CAC-DRS(hệ thống báo cáo của SCCT năm 2018, với các nhóm A0–A3 và số động mạch có vôi hóa)
Ở mỗi tổn thương động mạch vành, diện tích vôi hóa vượt ngưỡng 130 HU được nhân với một hệ số từ 1 đến 4 tùy theo tỷ trọng tối đa. Điểm số là tổng các tích này.
Cách viết trong báo cáo
Điểm vôi hóa Agatston bằng 0 trên loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang.
Cần phân biệt với: Điểm vôi hóa Agatston bằng 0 cho biết không phát hiện vôi hóa động mạch vành, không có nghĩa là không có xơ vữa: CAD-RADS 0 đòi hỏi CT mạch vành không thấy mảng xơ vữa, dù vôi hóa hay không vôi hóa, và không có hẹp.
Nguồn: Neves PO và cs. Radiol Bras 2017 (tổng quan), mục “Agatston method” · “The Agatston method uses the weighted sum of lesions with a density above 130 HU, multiplying the area of calcium by a factor related to maximum plaque attenuation”
Chi tiết
Trong thực hành. Tính trên loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang, đồng bộ điện tim, thu nhận trước khi chụp mạch, theo quy trình chuẩn 120 kVp và lát cắt 3 mm. Nếu đã thực hiện, ghi tổng điểm trong báo cáo; điểm này có thể dùng để gán gánh nặng mảng xơ vữa.
Lỗi cần tránh. Điểm vôi hóa Agatston chỉ đo mảng xơ vữa vôi hóa. CAD-RADS 2.0 yêu cầu kết hợp ít nhất với một đánh giá định tính toàn bộ mảng xơ vữa: P giữ nguyên nếu không có mảng xơ vữa không vôi hóa và có thể tăng nếu có; khi điểm bằng 0 mà vẫn thấy mảng xơ vữa, gán P bằng SIS hoặc bằng đánh giá bằng mắt.
Trong các nguồn khác. CAC-DRS của SCCT (2018) chia điểm số thành A0 (0), A1 (1–99), A2 (100–299) và A3 (từ 300 trở lên), và thêm số động mạch có vôi hóa (ví dụ A2/N3). Các ngưỡng này hơi khác với P1–P4. Thuật ngữ SCCT 2023 khuyến cáo dùng tên “Agatston score”, không dùng “calcium score” hay “CAC score”, và định nghĩa riêng thể tích và khối lượng vôi hóa. (CAC-DRS, Hecht 2018; Obisesan 2021; SCCT 2026, Bảng 3; Thuật ngữ SCCT 2023, Bảng 4)
Trong CCTA Map
Ở chế độ “Điểm vôi hóa (Agatston)”, nhập giá trị và sơ đồ chuyển thành P1–P4; bảng điều khiển hiển thị, ví dụ, “Agatston 260 → P2”, và mẫu báo cáo ghi “Gánh nặng mảng xơ vữa: trung bình (P2; Agatston 260).” Ô nhập chấp nhận dấu chấm hoặc dấu phẩy. Nếu sau dấu phân cách có đúng ba chữ số, dấu này được đọc là dấu phân cách hàng nghìn: “1,250” hoặc “1.250” là 1250 (P4). Nếu không, dấu được đọc là dấu thập phân và lấy số nguyên đã làm tròn: “87.3” hoặc “87,3” là 87 (P1). Nếu sơ đồ không có mảng xơ vữa nào được vẽ, giá trị lớn hơn 0 cho CAD-RADS 1 kèm P tương ứng, ví dụ “CAD-RADS 1/P2” với Agatston 120, và các mạch không có tổn thương được ghi “không hẹp”, không phải “không có mảng xơ vữa”. Hạn chế của công cụ: chế độ này chỉ dùng điểm số được nhập và không tính đến mảng xơ vữa đã đánh dấu trên sơ đồ. Khi thử với Agatston 0 và mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ ở bốn đoạn, sơ đồ cho CAD-RADS 2 không kèm P; theo SIS phải là 2/P2. Nên so sánh với P của “Tự động (sơ đồ)” và cố định kết quả nặng hơn bằng “Chọn P”.
Hình 6. Điểm vôi hóa Agatston nhân diện tích của mỗi tổn thương với một hệ số phụ thuộc vào tỷ trọng tối đa của tổn thương, rồi cộng tất cả các tổn thương trên mọi lát cắt.
Tự đánh giá
Các câu hỏi ngắn để kiểm tra những điểm chính. Đáp án hiện ra khi chọn một phương án.
1Một mảng xơ vữa liên tục chạy dọc RCA đoạn gần, đoạn giữa và đoạn xa. Ngoài ra có một mảng xơ vữa ở LAD đoạn gần và một mảng ở LCx đoạn gần, không còn mảng xơ vữa nào khác. SIS bằng bao nhiêu và gánh nặng mảng xơ vữa ở mức nào?
SIS đếm số đoạn, không đếm số mảng. Mảng xơ vữa liên tục được 3 điểm, mỗi đoạn của RCA một điểm; cộng LAD đoạn gần và LCx đoạn gần, tổng là 5, tương ứng P3. Xem thuật ngữ
2Ở LAD đoạn gần có một mảng xơ vữa có tái cấu trúc dương tính và không có đặc điểm nào khác. Ở LAD đoạn giữa, tách biệt với mảng trên, một mảng xơ vữa không vôi hóa khác có tỷ trọng bên trong 20 HU và không có đặc điểm nào khác. Điều này được thể hiện thế nào trong phân độ CAD-RADS?
Ký hiệu bổ sung đòi hỏi từ hai đặc điểm trở lên trên cùng một mảng xơ vữa. Ở đây mỗi mảng có một đặc điểm: các đặc điểm được nêu trong phần Mô tả, nhưng phân độ không kèm /HRP. Xem thuật ngữ
3Điểm vôi hóa Agatston bằng 0. Trên CT mạch vành có mảng xơ vữa không vôi hóa ở LAD đoạn gần, LAD đoạn giữa, LCx đoạn gần và RCA đoạn gần, không có chỗ hẹp nào từ 50% trở lên, và không có mảng xơ vữa nào khác. Gánh nặng mảng xơ vữa được gán ở mức nào?
Khi các phương pháp không thống nhất, dùng kết quả nặng nhất. Điểm vôi hóa Agatston không đo mảng xơ vữa không vôi hóa; SIS bằng 4, tương ứng P2. Xem thuật ngữ
4Ở LAD đoạn gần, đường kính ngoài của mạch tại vị trí mảng xơ vữa là 4,0 mm và đường kính lòng mạch là 2,6 mm. Đường kính ngoài tham chiếu là 3,9 mm ở đoạn lành phía gần và 3,1 mm ở đoạn lành phía xa. Chỉ số tái cấu trúc là bao nhiêu?
Chia đường kính ngoài tại tổn thương cho trung bình của hai đường kính tham chiếu: 4,0 / 3,5 = 1,14, lớn hơn 1,1. Nếu chỉ dùng tham chiếu phía gần sẽ được 1,03, còn nếu dùng lòng mạch sẽ được 0,74. Xem thuật ngữ
5Trên mặt cắt ngang của một mảng xơ vữa ở RCA đoạn gần thấy một vùng trung tâm rộng, tỷ trọng thấp, tiếp xúc với lòng mạch, được bao quanh bởi một vòng vôi hóa đậm đặc mỏng và liên tục. Hình ảnh này được mô tả như thế nào?
Trong dấu hiệu napkin-ring, vòng là mô mảng xơ vữa không vôi hóa đậm hơn vùng trung tâm, và CAD-RADS 2.0 định nghĩa dấu hiệu này trên mảng xơ vữa không vôi hóa. Một vòng vôi hóa đậm đặc không đạt tiêu chí và, cùng với vùng trung tâm không vôi hóa, làm cho mảng xơ vữa thành vôi hóa một phần. Xem thuật ngữ
6Trên loạt ảnh không tiêm thuốc cản quang, ổ vôi hóa động mạch vành duy nhất nằm ở LAD đoạn gần và chỉ thấy trên một lát cắt: diện tích 5 mm² và tỷ trọng tối đa 320 HU. CT mạch vành không thấy mảng xơ vữa nào khác. Điểm vôi hóa Agatston là bao nhiêu và gánh nặng mảng xơ vữa ở mức nào?
Hệ số phụ thuộc vào tỷ trọng tối đa của tổn thương: từ 300 đến 399 HU là 3, nên điểm số là 5 × 3 = 15. Giá trị từ 1 đến 100 tương ứng P1, giống như SIS bằng 1. Xem thuật ngữ
Tài liệu tham khảo
Rajiah PS, Alkadhi H, Andreini D, Bullock-Palmer RP, Chinnaiyan K, Chow B, et al. Interpretation and reporting of coronary computed tomographic angiography (2026 update): an expert consensus document of the Society of Cardiovascular Computed Tomography (SCCT). J Cardiovasc Comput Tomogr. 2026. Đang in. doi:10.1016/j.jcct.2026.08.014 Số trang trích dẫn theo bản PDF sơ bộ (journal pre-proof).
Cury RC, Leipsic J, Abbara S, Achenbach S, Berman D, Bittencourt M, et al. CAD-RADS 2.0 - 2022 Coronary Artery Disease-Reporting and Data System: an expert consensus document of the SCCT, ACC, ACR and NASCI. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2022;16(6):536-57. doi:10.1016/j.jcct.2022.07.002
Koweek L, Achenbach S, Berman DS, Carr JJ, Cury RC, Ghoshhajra B, et al. Standardized medical terminology for cardiac computed tomography 2023 update: an expert consensus document of the SCCT, AAPM, ACR, NASCI and RSNA. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2023;17(5):345-54. doi:10.1016/j.jcct.2023.06.002
Narula J, Chandrashekhar Y, Ahmadi A, Abbara S, Berman DS, Blankstein R, et al. SCCT 2021 expert consensus document on coronary computed tomographic angiography: a report of the Society of Cardiovascular Computed Tomography. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2021;15(3):192-217. doi:10.1016/j.jcct.2020.11.001
Neves PO, Andrade J, Monção H. Coronary artery calcium score: current status. Radiol Bras. 2017;50(3):182-9.
Tamburino C, Tomasello SD, Capodanno D, Di Salvo ME, Marzà F, Galassi AR. Long-term follow-up after drug eluting stent implantation in left main trifurcations. EuroIntervention. 2009;5(4):432-7. doi:10.4244/eijv5i4a68
Kovacevic M, Burzotta F, Elharty S, Besis G, Aurigemma C, Romagnoli E, et al. Left main trifurcation and its percutaneous treatment: what is known so far? Circ Cardiovasc Interv. 2021;14(3):e009872. doi:10.1161/CIRCINTERVENTIONS.120.009872
Kim C, Park CH, Lee BY, et al. 2024 consensus statement on coronary stenosis and plaque evaluation in CT angiography from the Asian Society of Cardiovascular Imaging-Practical Tutorial (ASCI-PT). Korean J Radiol. 2024;25(4):331-42. doi:10.3348/kjr.2024.0112
Nguồn của các ghi chú “Trong các nguồn khác”
Leipsic J, Abbara S, Achenbach S, Cury R, Earls JP, Mancini GBJ, et al. SCCT guidelines for the interpretation and reporting of coronary CT angiography: a report of the Society of Cardiovascular Computed Tomography Guidelines Committee. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2014;8(5):342-58. doi:10.1016/j.jcct.2014.07.003
Cury RC, Abbara S, Achenbach S, et al. CAD-RADS: Coronary Artery Disease – Reporting and Data System. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2016;10(4):269-81. doi:10.1016/j.jcct.2016.04.005
Nieman K, García-García HM, Hideo-Kajita A, et al. Standards for quantitative assessments by coronary computed tomography angiography (CCTA): an expert consensus document of the SCCT. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2024;18(5):429-43. doi:10.1016/j.jcct.2024.05.232
Williams MC, Moss AJ, Dweck M, et al. Coronary artery plaque characteristics associated with adverse outcomes in the SCOT-HEART study. J Am Coll Cardiol. 2019;73(3):291-301. doi:10.1016/j.jacc.2018.10.066
van Rosendael SE, Shiyovich A, Cardoso RN, Souza Freire CV, van Rosendael AR, Lin FY, et al. The role of cardiac computed tomography angiography in risk stratification for coronary artery disease. J Soc Cardiovasc Angiogr Interv. 2024;3(11):102230. doi:10.1016/j.jscai.2024.102230
Yang S, Lee JM, Hoshino M, Murai T, Choi KH, Hwang D, et al. Prognostic implications of comprehensive whole vessel plaque quantification using coronary computed tomography angiography. JACC Asia. 2021;1(1):37-48. doi:10.1016/j.jacasi.2021.05.003
Pozo E, Agudo-Quilez P, Rojas-González A, Alvarado T, Olivera MJ, Jiménez-Borreguero LJ, et al. Noninvasive diagnosis of vulnerable coronary plaque. World J Cardiol. 2016;8(9):520-33. doi:10.4330/wjc.v8.i9.520
Bittencourt MS, Hulten E, Ghoshhajra B, et al. Prognostic value of nonobstructive and obstructive coronary artery disease detected by coronary computed tomography angiography to identify cardiovascular events. Circ Cardiovasc Imaging. 2014;7(2):282-91. doi:10.1161/CIRCIMAGING.113.001047
Hecht HS, Blaha MJ, Kazerooni EA, et al. CAC-DRS: Coronary Artery Calcium Data and Reporting System. An expert consensus document of the Society of Cardiovascular Computed Tomography (SCCT). J Cardiovasc Comput Tomogr. 2018;12(3):185-91. doi:10.1016/j.jcct.2018.03.008
Obisesan OH, Osei AD, Uddin SMI, Dzaye O, Blaha MJ. An update on coronary artery calcium interpretation at chest and cardiac CT. Radiol Cardiothorac Imaging. 2021;3(1):e200484. doi:10.1148/ryct.2021200484