Hẹp động mạch vành: phân độ, đường kính tham chiếu và tắc hoàn toàn
BS. David F. Cuevas Cueto · Cập nhật ngày 27 tháng 9 năm 2026 · Nguồn: SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0
Mức độ hẹp được phân độ theo mức giảm đường kính lòng mạch so với một đoạn bình thường làm tham chiếu và được ghi bằng một thuật ngữ kèm khoảng phần trăm. Phân độ CAD-RADS của bệnh nhân dựa trên chỗ hẹp nặng nhất; hẹp thân chung động mạch vành trái (LM) từ 50% trở lên, hoặc hẹp từ 70% trở lên ở cả ba thân động mạch vành, nâng phân độ lên 4B. Các định nghĩa tuân theo đồng thuận SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0.
Những điểm chính
Mức độ hẹp được phân độ theo đường kính, so sánh lòng mạch tối thiểu với lòng mạch của một đoạn bình thường ở gần, không bao giờ so sánh với đường viền ngoài của mảng xơ vữa đã tái cấu trúc.
Các mức độ là hẹp tối thiểu (1–24%), hẹp nhẹ (25–49%), hẹp trung bình (50–69%), hẹp nặng (70–99%) và tắc hoàn toàn (100%); trong báo cáo, thuật ngữ luôn đi kèm khoảng phần trăm.
Ước lượng bằng mắt theo khoảng là đủ cho báo cáo lâm sàng; đo định lượng không phải yêu cầu thường quy và sai lệch khoảng ±25% so với chụp động mạch vành xâm lấn.
Một đoạn không ngấm thuốc trong lòng mạch là tắc hoàn toàn dù phía xa có thuốc cản quang, và tính mạn tính không được mặc định mà phải suy ra từ tuần hoàn bàng hệ, vôi hóa hoặc chiều dài đoạn tắc.
Hẹp được coi là tắc nghẽn từ 50% và là hẹp nặng từ 70%, nhưng ở LM, hẹp từ 50% trở lên đã là CAD-RADS 4B.
Mỗi chỗ hẹp được mô tả ở đoạn của nó bằng tên giải phẫu, loại mảng xơ vữa và mức độ; với tổn thương nối tiếp hoặc lan tỏa, chỗ hẹp nặng nhất quyết định phân độ.
Bảng 1. Thang phân độ hẹp động mạch vành theo đường kính. Phân độ ghi trong bảng là phân độ của bệnh nhân khi mức đó là chỗ hẹp nặng nhất; hẹp LM từ 50% trở lên là CAD-RADS 4B.
Mức
Thuật ngữ
Khoảng
Ý nghĩa
0
Không thấy hẹp
0%
Lòng mạch không bị thu hẹp. Không có mảng xơ vữa: CAD-RADS 0; có mảng xơ vữa: CAD-RADS 1
1
Tối thiểu
1–24%
Không tắc nghẽn (CAD-RADS 1)
2
Nhẹ
25–49%
Không tắc nghẽn (CAD-RADS 2)
3
Trung bình
50–69%
Tắc nghẽn (CAD-RADS 3; 4B nếu ở LM)
4
Nặng
70–99%
Tắc nghẽn (CAD-RADS 4A; 4B nếu ở LM hoặc ở ba thân)
5
Tắc hoàn toàn
100%
Đoạn không ngấm thuốc, cấp hoặc mạn tính (CAD-RADS 5)
Nguồn: SCCT 2026, phần văn bản tr. 15 và Bảng 5, tr. 51; CAD-RADS 2.0, Bảng 1 và 4. Bảng 5 ghi “tối thiểu (1–25%)”; phần văn bản của SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0 ghi “1–24%”.
Tên khác:phần trăm hẹp đường kính, mức giảm đường kính lòng mạch, diameter stenosis
Hẹp theo đường kính đo mức giảm đường kính lòng mạch tại chỗ hẹp nhất so với đường kính của một đoạn bình thường làm tham chiếu. SCCT và CAD-RADS phân độ hẹp theo đường kính, không theo diện tích.
Cần phân biệt với: hẹp theo đường kính với hẹp theo diện tích. Với lòng mạch hình tròn, hẹp 50% theo đường kính tương đương hẹp 75% theo diện tích.
Nguồn: SCCT 2026, phần phân độ hẹp định tính, tr. 15; tái tạo cong, tr. 9; công thức trong phần phân độ hẹp định lượng, tr. 16 · “A qualitative interpretation of the extent of coronary artery stenosis should be made in transverse and longitudinal views as an estimated maximal percent diameter stenosis.”
Chi tiết
Trong thực hành. Mức độ hẹp tối đa được ước lượng trên các lát cắt ngang và lát cắt dọc, vì tái tạo cong có thể đánh giá thấp chỗ hẹp lệch tâm. Nếu đo, mức độ hẹp được tính bằng (RLD − MLD) / RLD × 100, trong đó RLD là đường kính lòng mạch tham chiếu và MLD là đường kính lòng mạch tối thiểu.
Lỗi cần tránh. Ghi phần trăm hẹp theo diện tích như thể là theo đường kính. Với cùng một tổn thương, phần trăm theo diện tích cao hơn, và thang CAD-RADS áp dụng cho đường kính.
Trong các nguồn khác. SCCT 2014 coi hẹp theo diện tích là thông tin bổ sung, không bắt buộc. (SCCT 2014, mục 5.4, tr. 346)
Trong CCTA Map
Các nút 0–5 của mục “Mức độ” và thanh trượt “Mức độ hẹp” ghi phần trăm theo thang đường kính của CAD-RADS, và mỗi đoạn lấy tổn thương có mức độ cao nhất. Sơ đồ không có ô nhập hẹp theo diện tích.
Hình 1. Cùng một tổn thương là hẹp 50% theo đường kính và 75% theo diện tích, vì diện tích tỷ lệ với bình phương đường kính. Thang của SCCT và CAD-RADS áp dụng cho phần trăm hẹp theo đường kính.
Đường kính lòng mạch tham chiếu Reference luminal diameterRLD#
Tên khác:đường kính tham chiếu, đường kính mạch tham chiếu(thuật ngữ của chụp mạch vành định lượng, nơi nó đo lòng mạch), RVD(chữ viết tắt của chụp mạch vành định lượng), reference luminal diameter
Đường kính lòng mạch tham chiếu được đo ở lòng mạch của một đoạn bình thường gần chỗ hẹp, ở phía gần hoặc phía xa, hoặc lấy trung bình của cả hai. Đây là mẫu số của phần trăm hẹp.
Cần phân biệt với: đường kính lòng mạch tham chiếu với đường kính ngoài của mạch. Đường kính ngoài dùng để đánh giá tái cấu trúc dương tính; mức độ hẹp chỉ được tính bằng đường kính lòng mạch.
Nguồn: SCCT 2026, phần phân độ hẹp định tính (tr. 15) và định lượng (tr. 16–17); ước tính quá cao, tr. 29 · “Qualitatively, the luminal diameter at a stenosis should be compared with the luminal diameter of a normal reference vessel segment distal and/or proximal to the stenosis.”
Chi tiết
Trong thực hành. Chọn lát cắt bình thường nhất trong phạm vi 10 mm quanh tổn thương, không có nhánh xen giữa. Với tổn thương tại lỗ, dùng đoạn tham chiếu phía xa gần nhất. Ở LM và trong bệnh lan tỏa, có thể dùng giá trị đường kính bình thường.
Lỗi cần tránh. So sánh lòng mạch với đường viền ngoài của một mảng xơ vữa có tái cấu trúc dương tính sẽ ước tính quá cao mức độ hẹp. Lòng mạch tối thiểu phải được so với lòng mạch của một đoạn bình thường.
Trong các nguồn khác. Đồng thuận ASCI-PT 2024 ưu tiên vị trí trông bình thường nhất ngay phía gần mảng xơ vữa. Nếu đoạn phía gần không dùng được, như ở tổn thương tại lỗ, chọn đoạn tham chiếu phía xa gần nhất. Tham chiếu nội suy được giữ làm phương án để so sánh với chụp mạch vành định lượng. (Kim 2024, ASCI-PT, chủ đề 7 và Bảng 4)
Trong CCTA Map
Sơ đồ không đo đường kính. Phần trăm được ghi bằng các nút hoặc thanh trượt là giá trị mà bác sĩ chẩn đoán hình ảnh đã ước lượng hoặc đo trên trạm xử lý hình ảnh.
Tên khác:phân độ hẹp động mạch vành, mức độ hẹp, hẹp khítkhông dùng trong bảng thuật ngữ này, hẹp tới hạn(không thuộc thang; ghi mức độ hẹp kèm khoảng phần trăm)không dùng trong bảng thuật ngữ này, stenosis grading scale
SCCT 2026 và CAD-RADS 2.0 chia hẹp theo đường kính thành sáu mức: 0%, hẹp tối thiểu (1–24%), hẹp nhẹ (25–49%), hẹp trung bình (50–69%), hẹp nặng (70–99%) và tắc hoàn toàn (100%).
Cần phân biệt với: mức độ hẹp với gánh nặng mảng xơ vữa. CAD-RADS 2.0 dùng “nhẹ”, “trung bình” và “nặng” cho cả hai thang, và một chỗ hẹp tối thiểu có thể đi kèm gánh nặng mảng xơ vữa nặng (CAD-RADS 1/P3).
Nguồn: SCCT 2026, phần phân độ hẹp định tính, tr. 15 · “This stenosis can be categorized as minimal (1-24 %), mild (25-49 %), moderate (50-69 %), severe (70-99 %) and total occlusion (100 %)”
Chi tiết
Trong thực hành. Trong báo cáo, thuật ngữ được ghi kèm khoảng phần trăm, ví dụ “hẹp trung bình (50–69%)”, để tương thích với các mức của chụp động mạch vành xâm lấn (ICA). Phân độ CAD-RADS dựa trên chỗ hẹp nặng nhất của bệnh nhân.
Lỗi cần tránh. Chỉ ghi “hẹp trung bình” mà không có khoảng phần trăm, hoặc dùng từ ngoài thang như “hẹp khít” hay “hẹp tới hạn”. Cần ghi một thuật ngữ của thang kèm khoảng phần trăm.
Trong các nguồn khác. SCCT 2009 cho phép một thang tùy chọn, trong đó hẹp nhẹ là dưới 39% và hẹp trung bình là 40–69%. Một số nghiên cứu cũng dùng các ngưỡng khác cho hẹp nhẹ và hẹp tối thiểu. Trước khi so sánh một bài báo với thang này, cần kiểm tra các ngưỡng mà bài báo đã dùng. (Raff 2009, SCCT, thang định lượng tùy chọn; Kim 2024, ASCI-PT, chủ đề 6 và Bảng 3)
Trong CCTA Map
Các nút 0–5 trong cửa sổ chỉnh sửa lưu một giá trị đại diện cho mỗi khoảng (0, 15, 38, 60, 85 hoặc 100%), và mẫu báo cáo ghi thuật ngữ kèm khoảng, ví dụ “hẹp trung bình (50-69%)”. Giá trị nội bộ này không phải là số đo: cửa sổ chỉnh sửa hiển thị nó cạnh thanh trượt “Mức độ hẹp”, nhưng báo cáo không in ra.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa gây hẹp tối thiểu (1-24%); đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp nhẹ (25-49%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch mũ (LCx): đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh OM1, OM2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp nặng (70-99%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ nặng. Phân độ CAD-RADS 4A/P2.
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở LCx và RCA.
Tên khác:tắc hoàn toàn động mạch vành, tắc động mạch vành hoàn toàn, hẹp 100%, tắc hoàn toàn mạn tính, CTO(chỉ dùng khi có dữ kiện ủng hộ tính mạn tính, như tuần hoàn bàng hệ; CAD-RADS 5 không hàm ý điều này), tắc gần hoàn toàn, bán tắc(không phải tắc hoàn toàn: lòng mạch vẫn còn ngấm thuốc tối thiểu), tuần hoàn bàng hệ(làm đầy giường mạch phía xa chỗ tắc và ủng hộ tính mạn tính), total occlusion
Tắc hoàn toàn là một đoạn động mạch vành hoàn toàn không ngấm thuốc cản quang trong lòng mạch, tương đương hẹp 100%. Chỉ cần một chỗ tắc hoàn toàn, cấp hay mạn tính, khảo sát đã được xếp CAD-RADS 5.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: tắc hoàn toàn (100%), RCA đoạn xa có ngấm thuốc cản quang.
Cần phân biệt với: tắc hoàn toàn với tắc gần hoàn toàn. Tắc gần hoàn toàn vẫn còn ngấm thuốc tối thiểu trong lòng mạch, có thể khó nhận thấy, và thường dễ can thiệp hơn tắc hoàn toàn mạn tính.
Nguồn: SCCT 2026, phần tắc động mạch vành (tắc hoàn toàn, tắc gần hoàn toàn và dữ kiện gợi ý tính mạn tính), tr. 18 · “Total coronary occlusion is defined by complete nonopacification of a coronary artery segment”
Chi tiết
Trong thực hành. Đoạn mạch được khảo sát trên ảnh tái tạo cong và trên lát cắt ngang. Nếu có một dải thuốc cản quang mảnh đi qua tổn thương thì đó là tắc gần hoàn toàn. Thuốc cản quang ở phía xa không loại trừ tắc hoàn toàn, vì thì chụp muộn đủ thời gian để tuần hoàn bàng hệ làm đầy phía xa.
Lỗi cần tránh. Ghi “tắc hoàn toàn mạn tính” hoặc “CTO” chỉ vì đoạn mạch bị tắc. Tính mạn tính được suy ra riêng, từ các dữ kiện như tuần hoàn bàng hệ, vôi hóa hoặc đoạn tắc dài.
Trong các nguồn khác. Trong can thiệp tim mạch, tắc hoàn toàn mạn tính đòi hỏi không có dòng chảy xuôi chiều qua tổn thương và thời gian tắc ước đoán hoặc đã xác định trên ba tháng. Trên CT mạch vành, chiều dài, vôi hóa và tuần hoàn bàng hệ chỉ gợi ý tính mạn tính. (Galassi 2024, đồng thuận EAPCI về tắc hoàn toàn mạn tính, phần mở đầu; SCCT 2026, tr. 18; SCCT 2024 về định lượng, Bảng 4, tr. 437)
Trong CCTA Map
Nút 5 đặt tổn thương ở mức 100%, mẫu báo cáo ghi “tắc hoàn toàn (100%)” và phân độ là CAD-RADS 5. Câu “phù hợp với tắc hoàn toàn mạn tính” chỉ được thêm khi bật một vòng nối bàng hệ đến vùng bị tắc trong mục “Tuần hoàn bàng hệ” của menu “Giải phẫu ▾”.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa, tắc hoàn toàn (100%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Phần mạch sau chỗ tắc của RCA ngấm thuốc trở lại qua tuần hoàn bàng hệ (từ LAD · nối thông mỏm tim PDA–LAD đoạn xa), phù hợp với tắc hoàn toàn mạn tính.
Kết luận Tắc hoàn toàn (100%) ở ít nhất một động mạch. Phân độ CAD-RADS 5/P1.
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở RCA.
Ổ tắc có tuần hoàn bàng hệ đến vùng phía xa, ủng hộ tính mạn tính (tắc hoàn toàn mạn tính) và có giá trị khi lập kế hoạch chiến lược cũng như đường tiếp cận tái thông mạch vành (ví dụ PCI tắc hoàn toàn mạn tính, CTO-PCI). Cần xác nhận sống còn cơ tim bằng phương pháp hình ảnh chuyên biệt, vì riêng tuần hoàn bàng hệ không dự báo sống còn cơ tim một cách đáng tin cậy.
Hình 2. Tắc hoàn toàn được định nghĩa là một đoạn không ngấm thuốc, và thuốc cản quang ở phía xa không loại trừ tắc hoàn toàn vì có thể đến qua tuần hoàn bàng hệ. Một dải thuốc cản quang mảnh đi qua tổn thương cho thấy tắc gần hoàn toàn.
Còn thông, không hẹp và không có mảng xơ vữa Patent, no stenosis and no plaque#
Tên khác:tình trạng còn thông, thông tốt, không thấy hẹp(thuật ngữ của CAD-RADS 2.0 cho mức 0%), không hẹp lòng mạch, không có mảng xơ vữa hay hẹp, không có tổn thương xơ vữa(tương đương không có mảng xơ vữa), không hẹp đáng kể(mơ hồ: không cho biết có mảng xơ vữa hay không và dùng ngưỡng nào)không dùng trong bảng thuật ngữ này, bình thường(chỉ khi không có mảng xơ vữa và không hẹp), patent
Đây là ba nhận định khác nhau. “Còn thông” cho biết lòng của mạch, stent hoặc cầu nối có ngấm thuốc cản quang và không bị tắc, nhưng không cho biết lòng mạch có bị hẹp hay không. “Không hẹp” cho biết lòng mạch không bị thu hẹp (0%), dù vẫn có thể có mảng xơ vữa. “Không có mảng xơ vữa” cho biết thành mạch không có mảng xơ vữa. Một đoạn chỉ được coi là bình thường khi không có mảng xơ vữa và không hẹp.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa, không thấy hẹp lòng mạch.
Cần phân biệt với: “còn thông” với “không hẹp”. Stent còn thông vẫn có thể tái hẹp trung bình (50–69%), và cầu nối còn thông vẫn có thể hẹp ở miệng nối xa.
Nguồn: SCCT 2026, phần stent động mạch vành (tr. 19), cầu nối (tr. 19–20), mảng xơ vữa (tr. 13) và kết luận (tr. 36); CAD-RADS 2.0, Bảng 1 (0%, “No visible stenosis”) và Bảng 4 (CAD-RADS 0 và 1, chú thích b) · “An impression of a normal study should be given only if there is no plaque or stenosis.”
Chi tiết
Trong thực hành. Với stent, chỉ kết luận còn thông khi có thuốc cản quang trong lòng stent; riêng thuốc cản quang ở phía xa là chưa đủ. Với cầu nối, ghi tình trạng còn thông và ghi riêng tình trạng hẹp ở thân cầu nối, ở các miệng nối và ở giường mạch phía xa. Với một đoạn có mảng xơ vữa không làm hẹp lòng mạch, ghi loại mảng xơ vữa kèm “không thấy hẹp lòng mạch”. Trước khi ghi “không có mảng xơ vữa”, cần xem thành mạch trên các lát cắt ngang: một mảng xơ vữa vôi hóa nhỏ, tỷ trọng không cao, có thể đồng tỷ trọng với lòng mạch đã ngấm thuốc, và loạt ảnh không tiêm thuốc giúp phát hiện.
Lỗi cần tránh. Ghi “các động mạch vành còn thông” hoặc “không hẹp đáng kể” như thể tương đương một khảo sát bình thường. SCCT 2026 chỉ dùng kết luận khảo sát bình thường khi không có mảng xơ vữa và không hẹp, và một mảng xơ vữa không làm hẹp lòng mạch đã xếp ít nhất CAD-RADS 1.
Trong CCTA Map
Mẫu báo cáo mô tả các đoạn không được đánh dấu là bình thường: một mạch không có dấu nào được ghi là “không có mảng xơ vữa”; sau tổn thương cuối cùng, ghi “phần còn lại của mạch bình thường”; các nhánh được ghi “không có mảng xơ vữa”. Khi chọn “không đủ để chẩn đoán” trong ô chọn “Chất lượng”, các câu này chuyển thành “không thấy tổn thương” và “phần còn lại của mạch không thấy tổn thương”. Với mức chất lượng khác, nếu P được đặt bằng “Điểm vôi hóa (Agatston)” hoặc “Chọn P” mà trên sơ đồ không vẽ mảng xơ vữa nào, các câu này chuyển thành “không hẹp” và “phần còn lại của mạch không hẹp”, kể cả ở các nhánh, vì P đã cho biết có mảng xơ vữa. Stent không tái hẹp được ghi là “stent còn thông, không tái hẹp đáng kể”, và cầu nối không hẹp được ghi là “còn thông, không hẹp đáng kể”. Hạn chế của công cụ: mảng xơ vữa đánh dấu 0% được ghi là “mảng xơ vữa không gây hẹp đáng kể”, không kèm loại mảng; và khi đánh dấu “N” cho một đoạn, sơ đồ xóa mảng xơ vữa của đoạn đó, không còn tính nó vào SIS và P, và không khôi phục lại khi bỏ N. Ở trường hợp thứ nhất, ghi loại mảng xơ vữa kèm “không thấy hẹp lòng mạch” khi sửa bản nháp; ở trường hợp thứ hai, mô tả mảng xơ vữa bằng tay và, nếu đánh giá được gánh nặng mảng xơ vữa toàn bộ một cách tin cậy, đặt P bằng “Chọn P” hoặc “Điểm vôi hóa (Agatston)” trong “Bổ sung P · I ▾”.
Hẹp tắc nghẽn và không tắc nghẽn Obstructive and nonobstructive stenosis≥50% · ≥70%#
Tên khác:bệnh động mạch vành tắc nghẽn, bệnh động mạch vành không tắc nghẽn, hẹp có ý nghĩakhông dùng trong bảng thuật ngữ này, hẹp đáng kể(mơ hồ: tùy nguồn, có nghĩa là từ 50% trở lên, từ 70% trở lên hoặc có ảnh hưởng chức năng; nên ghi mức độ kèm khoảng phần trăm)không dùng trong bảng thuật ngữ này, obstructive stenosis
Theo CAD-RADS 2.0, mà bảng thuật ngữ này tuân theo, hẹp từ 50% trở lên được gọi là tắc nghẽn, và hẹp dưới mức đó là không tắc nghẽn. Ngưỡng 70% đánh dấu hẹp nặng và là ngưỡng của bệnh ba thân động mạch vành tắc nghẽn.
Cách viết trong báo cáo
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn, chỗ hẹp nặng nhất là hẹp trung bình (50–69%) ở LAD đoạn giữa.
Cần phân biệt với: “tắc nghẽn” với “có ý nghĩa huyết động”. “Tắc nghẽn” là một ngưỡng giải phẫu, tức hẹp từ 50% đường kính trở lên; ảnh hưởng chức năng được đánh giá bằng nghiệm pháp chức năng và, nếu dùng CT-FFR hoặc CT tưới máu cơ tim (CTP), được mã hóa bằng ký hiệu bổ sung I.
Nguồn: CAD-RADS 2.0, mục 3.1.1 và Bảng 4 (CAD-RADS 1 và 2 là bệnh không tắc nghẽn; diễn giải CAD-RADS 3 đến 4B) · “CAD RADS 4B - This indicates the presence of a left main stenosis of at least 50% or three-vessel obstructive disease (>70%).”
Chi tiết
Trong thực hành. Ngưỡng 50% tách CAD-RADS 2 khỏi CAD-RADS 3, mức mà CAD-RADS 2.0 gợi ý cân nhắc nghiệm pháp chức năng. Ngưỡng 70% tách CAD-RADS 3 khỏi 4A. Hẹp LM từ 50% trở lên, hoặc hẹp từ 70% trở lên ở ba thân, là CAD-RADS 4B.
Lỗi cần tránh. Xếp CAD-RADS 3 cho hẹp LM 50–69%. Ở LM, hẹp từ 50% trở lên là CAD-RADS 4B.
Trong các nguồn khác. Hướng dẫn tái thông mạch vành ACC/AHA/SCAI 2021 gọi hẹp trên chụp mạch là có ý nghĩa khi từ 70% trở lên, hoặc từ 50% trở lên ở LM, và là hẹp trung gian khi 40–69%. Bảng thuật ngữ này theo ngưỡng 50% của CAD-RADS 2.0. (Lawton 2022, hướng dẫn tái thông mạch vành ACC/AHA/SCAI, mục 4.1)
Trong CCTA Map
Phần “Kết luận” gọi CAD-RADS 1 và 2 là “không tắc nghẽn” và liệt kê bằng chữ viết tắt vị trí của bệnh tắc nghẽn (≥50%): tên mạch (LM, LAD, LCx hoặc RCA) nếu tổn thương nằm trên mạch đó, và tên nhánh (ví dụ D1, OM1, R-PDA hoặc RI) nếu tổn thương nằm trên nhánh, như trong “Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở LAD, D1 và R-PDA”. Dòng bệnh không tắc nghẽn ghi theo cùng cách, ví dụ “Bệnh động mạch vành không tắc nghẽn ở D1 và OM1”. Hẹp LM từ 50% trở lên cho CAD-RADS 4B ngay cả khi không có hẹp nặng.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch mũ (LCx): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh OM1, OM2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ trung bình. Phân độ CAD-RADS 3/P2.
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở LAD, LCx và RCA.
Tổn thương, đoạn và mạch Lesion, segment and vessel#
Tên khác:phân tích theo tổn thương, phân tích theo đoạn, phân tích theo mạch
Đây là các cấp độ dùng để mô tả bệnh động mạch vành. Tổn thương là một mảng xơ vữa cụ thể, với chiều dài và mức độ hẹp tối đa của nó, và có thể trải trên nhiều đoạn. Đoạn là đơn vị của mô hình phân đoạn SCCT, trong đó ghi loại mảng xơ vữa và mức độ hẹp. Mạch là động mạch gồm các đoạn đó. Phân độ CAD-RADS được xác định cho bệnh nhân, không cho từng tổn thương hay từng mạch.
Cách viết trong báo cáo
Mảng xơ vữa vôi hóa một phần trải từ LAD đoạn gần đến LAD đoạn giữa, chỗ hẹp nặng nhất là hẹp trung bình (50–69%) ở LAD đoạn giữa.
Cần phân biệt với: tổn thương với đoạn khi tính SIS. Một mảng xơ vữa chiếm LAD đoạn gần và đoạn giữa là một tổn thương nhưng được tính 2 điểm; ba mảng xơ vữa trong cùng một đoạn chỉ được tính 1 điểm.
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa và thể tích mảng xơ vữa (tr. 14) và Bảng 6 (đánh giá mảng xơ vữa và mức độ hẹp theo đoạn), tr. 52; CAD-RADS 2.0, mục 3.1.1 và 3.3.4, Bảng 4 (chú thích về phân độ theo bệnh nhân) và Hình 17 · “Depending on the extent of disease, plaque can be described on a per-lesion or per-segment level.”
Chi tiết
Trong thực hành. Mức độ hẹp tối đa và các đặc điểm nguy cơ cao thuộc về một tổn thương, và HRP đòi hỏi từ hai đặc điểm trở lên trên cùng một mảng xơ vữa. Báo cáo ghi loại mảng xơ vữa và mức độ hẹp theo từng đoạn, và SIS đếm số đoạn có mảng xơ vữa, không đếm số mảng. Bệnh ba thân của CAD-RADS 4B được tính theo mạch. Phân độ của bệnh nhân do chỗ hẹp có ý nghĩa lâm sàng nhất quyết định, thường là chỗ hẹp có mức độ cao nhất. SCCT 2026 cho phép mô tả mảng xơ vữa theo tổn thương hoặc theo đoạn, tùy mức độ lan rộng của bệnh.
Lỗi cần tránh. Chỉ ghi một mảng xơ vữa dài ở đoạn có chỗ hẹp tối đa. Mảng xơ vữa được ghi ở mọi đoạn mà nó chiếm, và mỗi đoạn đều được tính vào SIS.
Trong CCTA Map
Mỗi tổn thương được vẽ bằng cách kéo dọc theo mạch và được mô tả trong cửa sổ mở ra. Một mảng xơ vữa kéo qua hai đoạn được ghi ở cả hai, với cùng mức độ, loại và đặc điểm, và được tính vào SIS ở cả hai đoạn; nếu chỗ hẹp tối đa chỉ nằm ở một đoạn, hãy vẽ một nét riêng cho mỗi đoạn. Các đặc điểm nguy cơ cao (“⬤ Tỷ trọng thấp”, “⬈ Tái cấu trúc dương tính”, “⦿ Vôi hóa dạng chấm” và “◎ Dấu hiệu napkin-ring”) được đánh dấu cho từng mảng xơ vữa, và HRP chỉ xuất hiện khi cùng một mảng có từ hai đặc điểm trở lên. Nếu một đoạn có hai mảng xơ vữa, mẫu báo cáo mô tả mảng có mức độ cao nhất và chỉ nêu mảng còn lại khi mảng đó có đặc điểm được đánh dấu; tuy nhiên, stent và mảng xơ vữa của mạch tự nhiên trong cùng một đoạn vẫn được mô tả riêng. Đây là hạn chế của công cụ: mảng thứ hai không có đặc điểm nguy cơ cao cần được thêm vào khi sửa bản nháp. Công cụ hiển thị một phân độ duy nhất cho mỗi bệnh nhân kèm lý do, ví dụ “Bệnh ba thân động mạch vành (≥70%)”.
Hẹp nối tiếp và bệnh lan tỏa Serial stenoses and diffuse disease#
Tên khác:tổn thương nối tiếp, hẹp nối tiếp, tổn thương tandem(trong SYNTAX chỉ tính là tandem khi các tổn thương cách nhau dưới ba lần đường kính tham chiếu), bệnh động mạch vành lan tỏa, mảng xơ vữa lan tỏa, hẹp lan tỏa, bệnh đa ổ(thuộc tính “multifocal” của SCCT 2026), tổn thương khu trú, hẹp khu trú, tổn thương dài(thuộc tính “long” của SCCT 2026), serial stenoses
Các thuật ngữ này mô tả mức độ lan rộng của bệnh dọc theo mạch. Tổn thương khu trú chiếm một đoạn ngắn, hai bên là thành mạch bình thường. Hẹp nối tiếp là khi có hai hoặc nhiều chỗ hẹp trên cùng một mạch, ngăn cách bởi các đoạn lòng mạch bình thường; “đa ổ” mô tả nhiều tổn thương tách rời nhau. Trong bệnh lan tỏa, mảng xơ vữa chiếm một đoạn dài, không có đoạn bình thường ở gần. SCCT 2026 không quy định chiều dài để phân biệt tổn thương xơ vữa khu trú với lan tỏa.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn giữa: hai mảng xơ vữa không vôi hóa nối tiếp, mảng phía gần gây hẹp nhẹ (25–49%) và mảng phía xa gây hẹp nặng (70–99%).
Cần phân biệt với: hẹp nối tiếp với bệnh lan tỏa. Ở hẹp nối tiếp, giữa các chỗ hẹp còn những đoạn lòng mạch bình thường và mỗi chỗ hẹp được phân độ riêng; trong bệnh lan tỏa, không có lòng mạch bình thường ở gần để làm tham chiếu.
trong hai tổn thương của cùng một đoạn, chỉ tổn thương có mức độ cao hơn được mô tả, trừ khi tổn thương kia có đặc điểm nguy cơ cao; chưa được khắc phục (đã kiểm tra trên sơ đồ ngày 2026-10-08).
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa (tr. 14), phân độ hẹp định lượng (tr. 16–17) và đánh giá thấp mức độ hẹp (tr. 29) · “Additional attributes such as "ostial", "bifurcation", "eccentric", "long", "diffuse" and "multifocal" can be used to further describe the location, morphology and extent of atherosclerotic disease.”
Chi tiết
Trong thực hành. SCCT 2026 cho phép mô tả mảng xơ vữa theo tổn thương hoặc theo đoạn và thêm các thuộc tính như “dài”, “lan tỏa” hoặc “đa ổ”. Trong bệnh lan tỏa, ghi đoạn mạch mà mảng xơ vữa chiếm và vị trí hẹp tối đa; với hẹp nối tiếp, mô tả từng chỗ hẹp kèm mức độ. Phân độ CAD-RADS dựa trên chỗ hẹp nặng nhất, còn mức độ lan rộng được phản ánh qua gánh nặng mảng xơ vữa, vì mỗi đoạn có mảng xơ vữa đều được tính vào SIS.
Lỗi cần tránh. Trong bệnh lan tỏa, lấy làm tham chiếu một đoạn lân cận cũng bị bệnh hoặc nhỏ sẽ đánh giá thấp mức độ hẹp. Nên dùng đường kính bình thường dự kiến của mạch.
Trong các nguồn khác. Trong thang điểm SYNTAX, các tổn thương cách nhau dưới ba lần đường kính tham chiếu được tính là một tổn thương nối tiếp (tandem). Tiêu chí bệnh lan tỏa của SYNTAX không mô tả mảng xơ vữa mà mô tả mạch phía xa có đường kính dưới 2 mm trên ít nhất 75% chiều dài. SCCT 2026 chỉ quy định chiều dài cho “khu trú” và “lan tỏa” trong một số phân loại cụ thể, là phân loại tái hẹp trong stent (10 mm) và phân loại bóc tách động mạch vành tự phát (20 mm), và không áp dụng cho mảng xơ vữa. (Sianos 2005, SYNTAX, tr. 222–223; SCCT 2026, tr. 19 và 23)
Trong CCTA Map
Nếu vẽ hai tổn thương trong cùng một đoạn, mẫu báo cáo mô tả tổn thương có mức độ cao nhất kèm loại mảng xơ vữa, và chỉ mô tả tổn thương còn lại nếu có đặc điểm nguy cơ cao được đánh dấu, trong một mệnh đề riêng (“trong cùng đoạn này, thêm một …”). Đây là hạn chế của công cụ: khi không có đặc điểm nào, tổn thương còn lại không xuất hiện và cần được thêm vào khi sửa bản nháp; phân độ không thay đổi vì dựa trên chỗ hẹp nặng nhất. Một mảng xơ vữa kéo qua hai đoạn được ghi ở cả hai. Sơ đồ không có trường cho “khu trú”, “lan tỏa” hoặc “đa ổ”; các thuộc tính này được ghi trong bản nháp.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nhẹ (25-49%); đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp nặng (70-99%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ nặng. Phân độ CAD-RADS 4A/P1.
Các thuật ngữ này mô tả cách mảng xơ vữa phân bố theo chu vi thành mạch. Mảng xơ vữa lệch tâm chỉ chiếm một phần chu vi, và lòng mạch bị đẩy lệch về phía thành không có mảng. Mảng xơ vữa đồng tâm bao quanh toàn bộ chu vi lòng mạch. Cả hai thuật ngữ đều không cho biết mức độ hẹp.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa lệch tâm, gây hẹp nhẹ (25–49%).
Cần phân biệt với: mảng xơ vữa đồng tâm với dày thành mạch đều, nhẵn theo chu vi trong viêm mạch, có ngấm thuốc cản quang và có thể kèm thâm nhiễm mô mỡ xung quanh. Dày thành này không do xơ vữa và được mã hóa bằng ký hiệu bổ sung E.
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa (thuộc tính “eccentric”, tr. 14), tái tạo cong (tr. 9) và viêm mạch (tr. 24); CAD-RADS 2.0, mục 3.3.6; Kim 2024 (ASCI-PT), chủ đề 8 · “Curved MPR can underestimate eccentric stenosis; hence evaluation should be performed in at least two perpendicular planes.”
Chi tiết
Trong thực hành. Tái tạo cong có thể đánh giá thấp chỗ hẹp lệch tâm, vì vậy mức độ hẹp được đánh giá trên ít nhất hai mặt phẳng vuông góc và trên lát cắt ngang. Nếu đo một lòng mạch hình elip trên lát cắt ngang, ASCI-PT 2024 đề nghị lấy trung bình của đường kính lớn nhất và nhỏ nhất, với mức đồng thuận trung bình (66,7%).
Lỗi cần tránh. Phân độ mảng xơ vữa lệch tâm chỉ trên một mặt phẳng dọc. Lòng mạch có thể trông rộng trên mặt phẳng đó nhưng hẹp trên mặt phẳng vuông góc.
Trong các nguồn khác. SCCT 2014 xếp vị trí lệch tâm vào các thông tin mô tả tùy chọn của một tổn thương gây hẹp. Trong SCCT 2026, “đồng tâm” xuất hiện ở bệnh lý mạch máu mảnh ghép tim, gây hẹp đồng tâm ở phía xa; ở những bệnh nhân này, mảng xơ vữa lệch tâm phía gần có thể do xơ vữa động mạch của người hiến. (SCCT 2014, mục 10.6.2, tr. 352; SCCT 2026, tr. 24)
Trong CCTA Map
Sơ đồ không ghi nhận mảng xơ vữa lệch tâm hay đồng tâm. Thuộc tính này được ghi khi sửa bản nháp.
Ước lượng bằng mắt và đo định lượng Visual estimation and quantitative measurement#
Tên khác:ước lượng mức độ hẹp bằng mắt, định lượng mức độ hẹp, visual estimation
Khi ước lượng bằng mắt, người đọc xếp khoảng mức độ hẹp bằng cách so sánh trực quan lòng mạch với đoạn tham chiếu. Đo định lượng tính phần trăm hẹp từ đường kính hoặc diện tích do phần mềm vẽ.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn giữa: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp trung bình (50–69%), ước lượng bằng mắt khoảng 55%.
Cần phân biệt với: con số ước lượng bằng mắt với con số đo được. Nếu không vẽ đường kính, con số được trình bày là ước lượng bằng mắt, kèm thuật ngữ và khoảng.
Nguồn: SCCT 2026, phần phân độ hẹp định lượng, tr. 17 · “Visual estimate is typically sufficient for clinical interpretation since it is comparable to visual stenosis assessment in ICA”
Chi tiết
Trong thực hành. Ước lượng bằng mắt theo khoảng là đủ cho báo cáo, tương đương việc đọc bằng mắt trên chụp động mạch vành xâm lấn. Đo định lượng không phải thường quy, vì kết quả đo sai lệch khoảng ±25% so với chụp mạch vành định lượng. Nếu đo, ghi con số kèm khoảng phần trăm.
Lỗi cần tránh. Chỉ ghi “hẹp 63%”, một độ chính xác mà phương pháp không đạt được. Cần ghi thuật ngữ kèm khoảng và, nếu muốn, thêm con số đo được.
Trong các nguồn khác. Trong định lượng bằng phần mềm, SCCT 2024 ưu tiên các số đo diện tích và thể tích hơn số đo đường kính vì độ tái lập cao hơn. Với báo cáo lâm sàng, bảng thuật ngữ theo cách ước lượng bằng mắt của SCCT 2026. (SCCT 2024 về định lượng, mục 3, tr. 432; SCCT 2026, tr. 17)
Trong CCTA Map
Với thanh trượt, mẫu báo cáo chỉ ghi con số, như “hẹp 45%”, không có thuật ngữ và khoảng. Đây là hạn chế của công cụ: khi sửa bản nháp, cần thêm thuật ngữ, khoảng và, nếu con số không được đo, ghi rõ đó là ước lượng bằng mắt. Với các nút 0–5, mẫu báo cáo ghi thuật ngữ và khoảng; giá trị nội bộ của mỗi nút đại diện cho khoảng và không phải là số đo.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn gần: mảng xơ vữa vôi hóa một phần gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn giữa: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp 45%; phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ trung bình. Phân độ CAD-RADS 3/P1.
Bệnh động mạch vành tắc nghẽn (≥50%) ở LAD.
Mô tả chỗ hẹp trong báo cáo Reporting a coronary stenosis#
Tên khác:mô tả tổn thương động mạch vành, phân loại tổn thương ACC/AHA(týp A, B và C trên chụp mạch; SCCT 2026 không dùng)
Mỗi chỗ hẹp được mô tả bằng vị trí giải phẫu, loại mảng xơ vữa gây hẹp và mức độ hẹp kèm thuật ngữ và khoảng. SCCT 2026 yêu cầu đánh giá theo từng đoạn như vậy, theo CAD-RADS 2.0.
Cách viết trong báo cáo
RCA đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp trung bình (50–69%).
mảng xơ vữa 0% được ghi không kèm loại mảng, và mảng xơ vữa thứ hai của đoạn bị bỏ qua nếu không có đặc điểm nguy cơ cao; chưa được khắc phục (đã kiểm tra trên sơ đồ ngày 2026-10-08).
Nguồn: SCCT 2026, Bảng 5 (đồng thuận về diễn giải, khuyến cáo mạnh) và Bảng 6 (đánh giá theo đoạn theo CAD-RADS 2.0); ví dụ cách viết, tr. 15 · “Description of stenosis is based on the anatomical location (e.g., mid LAD, distal RCA) rather than on segment numbers (e.g. segment 5, segment 7).”
Chi tiết
Trong thực hành. Có thể lấy ví dụ của SCCT 2026 làm mẫu: nêu đoạn trước, rồi đến mảng xơ vữa và cuối cùng là mức độ, như “RCA đoạn gần có mảng xơ vữa không vôi hóa và hẹp trung bình (50–69%)” (bản PDF trước hiệu đính ghi “50–60%”, có lẽ là lỗi in). Có thể thêm các thuộc tính như tại lỗ, tại chỗ chia đôi hoặc lệch tâm.
Lỗi cần tránh. Gọi là bình thường một đoạn có mảng xơ vữa không làm hẹp lòng mạch. “Bình thường” đòi hỏi không có mảng xơ vữa và không hẹp, và chỉ riêng một mảng xơ vữa đã là CAD-RADS 1.
Trong các nguồn khác. Trong can thiệp tim mạch, tổn thương được phân loại týp A, B hoặc C theo ACC/AHA dựa trên chiều dài, độ lệch tâm, độ gập góc, vôi hóa, nhánh bị ảnh hưởng, huyết khối và mức độ hẹp. Thang này ước tính khả năng thành công và nguy cơ của nong mạch vành. SCCT 2026 không dùng thang này. (Sianos 2005, SYNTAX, tr. 222)
Trong CCTA Map
Mẫu báo cáo soạn một đoạn văn cho mỗi mạch, với các câu như “mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp trung bình (50-69%)”, và dùng một động từ duy nhất là “gây”. Hạn chế của công cụ: mảng xơ vữa 0% được ghi là “mảng xơ vữa không gây hẹp đáng kể”, không kèm loại mảng, và nếu một đoạn có hai mảng xơ vữa, mảng thứ hai chỉ được mô tả khi có đặc điểm nguy cơ cao được đánh dấu. Khi sửa bản nháp, ghi loại mảng xơ vữa kèm “không thấy hẹp lòng mạch” và thêm mảng thứ hai nếu không xuất hiện; những thiếu sót này trong văn bản không làm thay đổi phân độ hay P.
Nguyên văn từ mẫu báo cáo của sơ đồ
Động mạch liên thất trước (LAD): đoạn giữa: mảng xơ vữa không gây hẹp đáng kể; phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh D1, D2: không có mảng xơ vữa.
Động mạch vành phải (RCA): đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa gây hẹp trung bình (50-69%); phần còn lại của mạch bình thường. Các nhánh AM, R-PDA, R-PLB: không có mảng xơ vữa.
Kết luận Bệnh động mạch vành tắc nghẽn mức độ trung bình. Phân độ CAD-RADS 3/P1.
Tên khác:tổn thương tại lỗ, hẹp lỗ động mạch vành, tổn thương lỗ xuất phát, tổn thương chủ–lỗ (aorto-ostial)(lỗ RCA hoặc lỗ LM ở động mạch chủ), tổn thương sát lỗ, ostial lesion
“Tại lỗ” được dùng khi mảng xơ vữa ảnh hưởng đến lỗ xuất phát của mạch: lỗ RCA hoặc lỗ LM ở động mạch chủ, hoặc lỗ của một nhánh ở mạch mẹ, như lỗ LAD tại chỗ chia đôi của LM. “Sát lỗ” được dùng khi mảng xơ vữa nằm cạnh nguyên ủy nhưng không chiếm lỗ xuất phát. SCCT 2026 nêu “ostial” là một thuộc tính mà không quy định khoảng cách; “sát lỗ” là thuật ngữ thực hành, không phải thuật ngữ đồng thuận.
Cách viết trong báo cáo
LAD đoạn gần: mảng xơ vữa không vôi hóa sát lỗ, không ảnh hưởng lỗ LAD, gây hẹp trung bình (50–69%).
Cần phân biệt với: hẹp tại lỗ do mảng xơ vữa với lỗ xuất phát dạng khe của một động mạch vành xuất phát bất thường, hoặc với tổn thương lỗ do viêm mạch lan từ động mạch chủ. Các chỗ hẹp này không do xơ vữa và được mã hóa bằng ký hiệu bổ sung E.
Nguồn: SCCT 2026, phần mảng xơ vữa (thuộc tính “ostial”, tr. 14), giải phẫu động mạch vành (tr. 11), phân độ hẹp định lượng (tr. 16), MIP (tr. 9), bất thường động mạch vành (tr. 20) và viêm mạch (tr. 24); Kim 2024 (ASCI-PT), chủ đề 1 và 7; CAD-RADS 2.0, Bảng 4 và mục 3.3.6 · “If the proximal segment is not appropriate (e.g., ostial lesion), the closest distal reference can be chosen.”
Chi tiết
Trong thực hành. Lỗ xuất phát được khảo sát trên lát cắt ngang và lát cắt dọc; ảnh MIP dày 5–10 mm thể hiện tốt nguyên ủy nhưng không dùng để phân độ hẹp. Với tổn thương tại lỗ, đoạn phía gần không dùng làm tham chiếu được và chọn đoạn tham chiếu phía xa gần nhất. Ở lỗ LAD hoặc LCx, cần xác định mảng xơ vữa có chiếm chỗ chia đôi của LM hay không: SCCT 2026 gán bệnh tại chỗ chia đôi cho đoạn phía trước, và ASCI-PT 2024 xếp các tổn thương chỗ chia đôi lan vào LAD hoặc LCx là tổn thương LM. Nếu mảng xơ vữa được gán cho LM, hẹp từ 50% trở lên là CAD-RADS 4B. Mảng xơ vữa sát lỗ được ghi ở LAD đoạn gần hoặc LCx đoạn gần.
Lỗi cần tránh. Gọi là tại lỗ một mảng xơ vữa ở LAD đoạn gần không chiếm lỗ xuất phát. Đó là tổn thương sát lỗ và được ghi ở LAD; chỉ mảng xơ vữa chiếm chỗ chia đôi mới được gán cho LM.
Trong các nguồn khác. SCCT 2014 đã xếp “ostial” vào các thuộc tính tùy chọn của mảng xơ vữa, và tổn thương tại lỗ hoặc tại nhánh vào các dữ kiện về mức lan rộng của chỗ hẹp. (SCCT 2014, mục 5.4, tr. 346, và Bảng 4, tr. 347)
Trong CCTA Map
Sơ đồ không có thuộc tính “tại lỗ”: mảng xơ vữa được vẽ ở đoạn của nó (tại chỗ chia đôi thì ở đoạn phía trước) và thuộc tính được ghi khi sửa bản nháp. Với một động mạch xuất phát bất thường từ xoang động mạch chủ (“Xoang phải” hoặc “Xoang trái” trong thẻ “Một mạch” của “Nguyên ủy động mạch vành”, menu “Giải phẫu ▾”), nút “Lỗ xuất phát dạng khe / góc xuất phát nhọn” trong “Đặc điểm nguy cơ cao” mô tả hình dạng của lỗ xuất phát bất thường, không phải chỗ hẹp do mảng xơ vữa. Hạn chế của công cụ: sơ đồ không phân độ chỗ hẹp không có mảng xơ vữa, nên một động mạch bất thường có hẹp trung bình được xếp CAD-RADS 0/E thay vì 3/E. Phân độ cần được chỉnh lại khi sửa bản nháp, không thêm P; vẽ chỗ hẹp như một tổn thương không giải quyết được vấn đề, vì sơ đồ sẽ mô tả đó là mảng xơ vữa và thêm P1.
Tự đánh giá
Các câu hỏi ngắn để kiểm tra những điểm chính. Đáp án hiện ra khi chọn một phương án.
1Phần mềm phân tích cho thấy ở LAD đoạn giữa đường kính lòng mạch tối thiểu 1,5 mm, đường kính tham chiếu 3,0 mm và hẹp theo diện tích 75%. Mức độ hẹp nào được ghi trong báo cáo?
Theo đường kính, (3,0 − 1,5) / 3,0 = 50%, tức hẹp trung bình. Con số 75% là hẹp theo diện tích của cùng tổn thương, và thang của hướng dẫn áp dụng cho đường kính. Xem thuật ngữ
2Một mảng xơ vữa không vôi hóa ở RCA đoạn gần có tái cấu trúc dương tính. Tại tổn thương, đường kính ngoài của mạch là 5,0 mm và lòng mạch tối thiểu là 2,0 mm. Lòng mạch của đoạn bình thường phía gần là 3,2 mm. Mức độ hẹp nào được ghi trong báo cáo?
Lòng mạch tối thiểu được so với lòng mạch của đoạn bình thường: (3,2 − 2,0) / 3,2 = 38%, tức hẹp nhẹ. Nếu so với đường viền ngoài đã tái cấu trúc, kết quả là 60% và mức độ hẹp bị ước tính quá cao. Xem thuật ngữ
3Trong một khảo sát chất lượng tốt, một đoạn dài 5 mm của LCx đoạn gần không có thuốc cản quang trong lòng mạch, còn LCx đoạn xa có ngấm thuốc. Đoạn này không có vôi hóa và không thấy tuần hoàn bàng hệ. Mô tả như thế nào?
Tắc hoàn toàn được định nghĩa là một đoạn không ngấm thuốc. Thuốc cản quang ở phía xa có thể đến qua tuần hoàn bàng hệ và không loại trừ tắc hoàn toàn. Khi không có dữ kiện ủng hộ tính mạn tính thì không gọi là mạn tính. Xem thuật ngữ
4LAD đoạn gần, LCx đoạn gần và RCA đoạn giữa đều hẹp trung bình (50–69%), không có tổn thương nào khác. Không xét gánh nặng mảng xơ vữa và các ký hiệu bổ sung, phân độ nào được xếp?
Cả ba chỗ hẹp đều là tắc nghẽn, nhưng bệnh ba thân của CAD-RADS 4B đòi hỏi hẹp từ 70% trở lên ở mỗi thân. Với hẹp 50–69%, phân độ là 3. Xem thuật ngữ
5Câu nào trong phần Mô tả tuân theo các khuyến cáo của SCCT 2026?
Câu này gọi đoạn theo vị trí giải phẫu, dùng thuật ngữ mảng xơ vữa được khuyến cáo và ghi mức độ bằng thuật ngữ kèm khoảng. Số thứ tự đoạn, “mảng mềm”, “có ý nghĩa” dùng như một mức độ hẹp và một con số chính xác đơn lẻ đều không đạt. Xem thuật ngữ
Tài liệu tham khảo
Rajiah PS, Alkadhi H, Andreini D, Bullock-Palmer RP, Chinnaiyan K, Chow B, et al. Interpretation and reporting of coronary computed tomographic angiography (2026 update): an expert consensus document of the Society of Cardiovascular Computed Tomography (SCCT). J Cardiovasc Comput Tomogr. 2026. Đang in. doi:10.1016/j.jcct.2026.08.014 Số trang trích dẫn theo bản PDF sơ bộ (journal pre-proof).
Cury RC, Leipsic J, Abbara S, Achenbach S, Berman D, Bittencourt M, et al. CAD-RADS 2.0 - 2022 Coronary Artery Disease-Reporting and Data System: an expert consensus document of the SCCT, ACC, ACR and NASCI. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2022;16(6):536-57. doi:10.1016/j.jcct.2022.07.002
Koweek L, Achenbach S, Berman DS, Carr JJ, Cury RC, Ghoshhajra B, et al. Standardized medical terminology for cardiac computed tomography 2023 update: an expert consensus document of the SCCT, AAPM, ACR, NASCI and RSNA. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2023;17(5):345-54. doi:10.1016/j.jcct.2023.06.002
Narula J, Chandrashekhar Y, Ahmadi A, Abbara S, Berman DS, Blankstein R, et al. SCCT 2021 expert consensus document on coronary computed tomographic angiography: a report of the Society of Cardiovascular Computed Tomography. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2021;15(3):192-217. doi:10.1016/j.jcct.2020.11.001
Neves PO, Andrade J, Monção H. Coronary artery calcium score: current status. Radiol Bras. 2017;50(3):182-9.
Tamburino C, Tomasello SD, Capodanno D, Di Salvo ME, Marzà F, Galassi AR. Long-term follow-up after drug eluting stent implantation in left main trifurcations. EuroIntervention. 2009;5(4):432-7. doi:10.4244/eijv5i4a68
Kovacevic M, Burzotta F, Elharty S, Besis G, Aurigemma C, Romagnoli E, et al. Left main trifurcation and its percutaneous treatment: what is known so far? Circ Cardiovasc Interv. 2021;14(3):e009872. doi:10.1161/CIRCINTERVENTIONS.120.009872
Kim C, Park CH, Lee BY, et al. 2024 consensus statement on coronary stenosis and plaque evaluation in CT angiography from the Asian Society of Cardiovascular Imaging-Practical Tutorial (ASCI-PT). Korean J Radiol. 2024;25(4):331-42. doi:10.3348/kjr.2024.0112
Nguồn của các ghi chú “Trong các nguồn khác”
Sianos G, Morel MA, Kappetein AP, et al. The SYNTAX Score: an angiographic tool grading the complexity of coronary artery disease. EuroIntervention. 2005;1(2):219-27.
Leipsic J, Abbara S, Achenbach S, Cury R, Earls JP, Mancini GBJ, et al. SCCT guidelines for the interpretation and reporting of coronary CT angiography: a report of the Society of Cardiovascular Computed Tomography Guidelines Committee. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2014;8(5):342-58. doi:10.1016/j.jcct.2014.07.003
Nieman K, García-García HM, Hideo-Kajita A, et al. Standards for quantitative assessments by coronary computed tomography angiography (CCTA): an expert consensus document of the SCCT. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2024;18(5):429-43. doi:10.1016/j.jcct.2024.05.232
Raff GL, Abidov A, Achenbach S, et al. SCCT guidelines for the interpretation and reporting of coronary computed tomographic angiography. J Cardiovasc Comput Tomogr. 2009;3(2):122-36. doi:10.1016/j.jcct.2009.01.001
Galassi AR, Vadalà G, Werner GS, et al. Evaluation and management of patients with coronary chronic total occlusions considered for revascularisation. A clinical consensus statement of the European Association of Percutaneous Cardiovascular Interventions (EAPCI) of the ESC, the European Association of Cardiovascular Imaging (EACVI) of the ESC, and the ESC Working Group on Cardiovascular Surgery. EuroIntervention. 2024;20(3):e174-84. doi:10.4244/EIJ-D-23-00749
Lawton JS, Tamis-Holland JE, Bangalore S, et al. 2021 ACC/AHA/SCAI guideline for coronary artery revascularization: a report of the American College of Cardiology/American Heart Association Joint Committee on Clinical Practice Guidelines. J Am Coll Cardiol. 2022;79(2):e21-e129. doi:10.1016/j.jacc.2021.09.006